Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Đại biểu Quốc hội Bắc Giang kiến nghị ngành điện mua than

Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang nhận được ý kiến của cử tri khối doanh nghiệp phản ánh những khó khăn của Công ty Hợp Nhất trong tiêu thụ than, ảnh hưởng lớn tới sản xuất, kinh doanh và đời sống người lao động. Phản ánh nguyện vọng của cử tri, đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công thương đề nghị giải quyết kiến nghị của cử tri. 

 

Theo đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang, Công ty Cổ phần Hợp Nhất đang thực hiện khai thác than tại mỏ Đông Nam Chũ và mỏ Nước Vàng (thuộc tỉnh Bắc Giang) với quy mô 500.000 tấn/năm, tạo việc làm ổn định cho gần 1.000 người lao động địa phương.

 

Trong thời gian qua, tiêu thụ than gặp nhiều khó khăn, tồn kho của công ty này tăng rất cao, đến nay lên tới một triệu tấn than sạch, làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp. Hiện, Công ty Cổ phần Hợp Nhất đang tạm dừng sản xuất ở các lò chợ, chỉ thực hiện đào các đường lò khai thông và xén cửa, cùng cố các đường lò.

 

Văn bản của đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang cho rằng, việc tạm dừng sản xuất dẫn đến nguy cơ người lao động thiếu việc làm, mất việc làm, nguy cơ mất an toàn lao động do các công trình mỏ, phương tiện khai thác xuống cấp do không được vận hành thường xuyên.

 

Nhằm giải quyết tồn kho, Công ty CP Hợp Nhất đã làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để thống nhất kế hoạch cung cấp than. Do đó, Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang đề nghị Thủ tướng, Bộ trưởng Công Thương xem xét, chỉ đạo các đơn vị liên quan tạo điều kiện cho Công ty CP Hợp Nhất được cung cấp than vào các nhà máy điện của EVN trong năm 2017 và các năm tiếp theo như phương án đã được EVN thống nhất với doanh nghiệp.

 

Thời gian gần đây, việc mua than của EVN với các công ty trong nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) xảy ra nhiều quan điểm trái chiều. Vào tháng 5-2017, EVN đề xuất lên Chính phủ được điều chỉnh lại số lượng than nhận của TKV từ 19,92 triệu tấn xuống 17,92 triệu tấn, giảm hai triệu tấn so kế hoạch.

 

Theo tính toán của TKV, nếu EVN giảm mua than, sẽ có hàng nghìn công nhân, lao động của tập đoàn này đứng trước nguy cơ thất nghiệp. Do đó, tập đoàn này đang tính phương án thuyết phục ngành điện xem xét lại đề xuất giảm mua than của TKV để mua của đối tác bên ngoài.

Nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

 

Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 (điều chỉnh). Theo đó, Thủ tướng quyết định điều chỉnh danh mục một số dự án đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển ngành than; bổ sung danh mục các dự án duy trì sản xuất; bổ sung tọa độ ranh giới khép góc các dự án duy trì sản xuất...

 

Cụ thể, đến năm 2020, ngành than đầu tư xây dựng mới các nhà máy sàng tuyển than như: Vàng Danh 2 công suất khoảng 2,0 triệu tấn/năm; Khe Thần công suất khoảng 2,5 triệu tấn/năm; Trung tâm chế biến và Kho than tập trung vùng Hòn Gai công suất khoảng 5,0 triệu tấn/năm (xây dựng mới modul 1 công suất 2,5 triệu tấn/năm tại Phường Hà Khánh và duy trì nhà máy tuyển Nam Cầu Trắng đến hết năm 2018. Sau năm 2018 di chuyển nhà máy tuyển Nam Cầu Trắng về vị trí Trung tâm chế biến và Kho than tập trung đã xây dựng để lắp đặt thành modul 2 công suất 2,5 triệu tấn/năm); Khe Chàm công suất khoảng 7,0 triệu tấn/năm; Lép Mỹ công suất khoảng 4,0 triệu tấn/năm.

 

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng phê duyệt điều chỉnh tọa độ ranh giới khép góc một số đề án đầu tư thăm dò tài nguyên than như: Đề án thăm dò mỏ Đông Triều - Phả Lại (I, II, III, IV); Đề án thăm dò mỏ Núi Hồng.

 

Điều chỉnh danh mục một số dự án mỏ Vàng Danh; mỏ Nam Mẫu; mỏ Suối Lại; mỏ Cọc Sáu; mỏ Đèo Nai; mỏ Lộ Trí; mỏ Mông Dương.

 

Trước đó, tại Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030, với mục tiêu xây dựng ngành than Việt Nam trở thành ngành công nghiệp phát triển; có sức cạnh tranh cao; có trình độ công nghệ tiên tiến so với khu vực ở tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến, sử dụng than; đáp ứng đủ than cho nhu cầu sử dụng trong nước, đặc biệt là than cho sản xuất điện.

Nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

 

Việt Nam cấp than antracite dài hạn cho Indonesia

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ cung cấp than antracite của Việt Nam cho Công ty PT. Bintang Delapan Capital (Indonesia) để sử dụng cho các dự án sản xuất Nicken của Bintang. Thời hạn hợp tác dự kiến trong giai đoạn 2018 - 2022.

 

 

Tổng giám đốc TKV Đặng Thanh Hải và ông Hamid Mina - Phó Chủ tịch Công ty PT. Bintang Delapan Capital đã ký kết "Bản ghi nhớ về cung cấp than dài hạn".

 

Từ ngày 22 - 24/8/2017, theo lời mời của Tổng thống Indonesia Joko Widodo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm chính thức Indonesia. Tổng giám đốc Tập đoàn Đặng Thanh Hải tham gia Đoàn công tác của Bộ Công Thương tháp tùng Tổng Bí thư và đã có các hoạt động xúc tiến quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp đối tác của Indonesia trong lĩnh vực cung cấp than.

 

Tham gia Đoàn công tác của Bộ Công Thương tháp tùng Tổng Bí thư, trong chuyến đi này, Tổng giám đốc TKV Đặng Thanh Hải và Đoàn công tác đã tham dự Diễn đàn doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Indonesia tổ chức.

 

Cũng trong khuân khổ chương trình, Tổng giám đốc TKV Đặng Thanh Hải đã làm việc với một số khách hàng than tại Jakarta - Indonesia và tham gia buổi lễ ký kết hợp tác của các doanh nghiệp hai nước nhân chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Indonesia.

 

Tại buổi lễ, dưới sự chứng kiến của Lãnh đạo Bộ Công Thương, Bộ Năng lượng và Tài nguyên khoáng sản Indonesia, Tổng giám đốc TKV Đặng Thanh Hải và ông Hamid Mina - Phó Chủ tịch Công ty PT. Bintang Delapan Capital đã ký kết "Bản ghi nhớ về cung cấp than dài hạn". Theo đó, TKV sẽ cung cấp than antracite của Việt Nam cho PT. Bintang Delapan Capital để sử dụng cho các dự án sản xuất Nicken của Bintang. Thời hạn hợp tác dự kiến trong giai đoạn 2018 - 2022.

 

Trước đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Tài nguyên khoáng sản Indonesia - ông Ignasius Jonan cũng đã ký Bản ghi nhớ về Hợp tác sử dụng khí đốt và Bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực than giữa hai Bộ, làm cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam và Indonesia thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng, đóng góp vào lợi ích chung của hai nước.

Nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

 

Khai mạc Tuần lễ Văn hóa Dầu khí lần thứ X và Hội thao ngành Dầu khí năm 2017

Sáng 26/8 tại Nhà thi đấu quận Cầu Giấy, Hà Nội, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức Lễ khai mạc “Tuần lễ Văn hóa Dầu khí lần thứ X" và "Hội thao ngành Dầu khí năm 2017”.
khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Toàn cảnh Lễ khai mạc

Tới dự lễ khai mạc có ông Trần Văn Thuật, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐ LĐVN); ông Nguyễn Trường Sơn, Phó Bí thư Đoàn Khối Doanh nghiệp Trung ương, các vị đại biểu lãnh đạo Tổng LĐ LĐVN, đại biểu các Công đoàn Ngành Trung ương, LĐLĐ tỉnh, thành phố đã ký Quy chế phối hợp hoạt động với Công đoàn Dầu khí Việt Nam (CĐ DKVN).

Về phía Tập đoàn Dầu khí có ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, Phó Bí thư phụ trách Đảng ủy, Thành viên phụ trách HĐTV, Tổng giám đốc Tập đoàn; ông Phan Ngọc Trung, Thành viên HĐTV; ông Nguyễn Tiến Vinh, Thành viên HĐTV; ông Nguyễn Hùng Dũng, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn; ông Đỗ Chí Thanh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn. Về phía CĐ DKVN có bà Nghiêm Thùy Lan, Ủy viên BCH Tổng LĐ LĐVN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn, Chủ tịch CĐ DKVN; bà Vũ Thị Thu Hương, Ủy viên BCH Đảng bộ, Bí thư Đoàn thanh niên Tập đoàn, cùng lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Tập đoàn và sự tham gia của 20 đoàn vận động viên các công đoàn trực thuộc Công đoàn Dầu khí Việt Nam.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017

Tuần lễ Văn hóa Dầu khí lần thứ X năm 2017 là hoạt động thiết thực, mang ý nghĩa chào mừng kỷ niệm 72 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và 42 năm Ngày thành lập Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; hướng tới chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp, tiến tới Đại hội Công đoàn Dầu khí Việt Nam lần thứ VI, đồng thời góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, là ngày hội văn hoá nhằm phát triển toàn diện thể lực, nâng cao sức khỏe, tinh thần, ý chí cho người lao động.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Bà Nghiêm Thùy Lan, Chủ tịch CĐ DKVN phát biểu khai mạc Tuần lễ Văn hóa Dầu khí lần thứ X và Đại hội Thể thao ngành Dầu khí năm 2017

Phát biểu tại Lễ khai mạc bà Nghiêm Thùy Lan, Chủ tịch CĐ DKVN nhấn mạnh: "Đây sẽ là sân chơi bổ ích và đậm chất văn hóa của người Dầu khí. Năm 2017, mặc dù Tập đoàn DKVN tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng với bản sắc văn hoá Dầu khí, cùng các giá trị cốt lõi đã kết tinh thành sức mạnh nội lực của "Những người đi tìm lửa", đó là: Trí tuệ - Chuyên nghiệp - Hiện đại - Hội nhập - Nghĩa tình - Truyền thống. Tập thể CNVCLĐ Dầu khí đã chung sức, đồng lòng thực hiện tốt mọi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Tập đoàn.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Các đại biểu ấn nút khai mạc Tuần lễ Văn hóa Dầu khí và Hội thao

Tại lễ khai mạc, CĐ DKVN đã trao tặng biểu trưng tuyên dương, khen thưởng cho 12 công đoàn trực thuộc đạt danh hiệu đơn vị tiêu biểu xuất sắc và 6 công đoàn trực thuộc đạt danh hiệu tiêu biểu trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Đồng thời trao giải Cuộc thi “Tìm hiểu hoạt động Công đoàn” và phát động Cuộc thi viết về “Những tấm gương người tốt, việc tốt trong ngành Dầu khí Việt Nam”; trao hỗ trợ kinh phí cho CNLĐ các đơn vị khó khăn.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Ông Nguyễn Hùng Dũng, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn trao kỷ niệm chương cho các đơn vị xuất sắc trong phong trào Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
12 đơn vị được khen thưởng là các đơn vị xuất sắc trong phong trào Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Hội thao ngành Dầu khí năm nay có 6 nội dung thi đấu với sự tham gia của hơn 600 vận động viên đến từ 20 công đoàn đơn vị, với các bộ môn: Kéo co, Cầu lông, Tenis, Bóng bàn, Cờ vua, Cờ tướng.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Chủ tịch CĐ DKVN Nghiêm Thùy Lan trao giải Đặc biệt và giải Nhất cuộc thi Tìm hiểu hoạt động công đoàn cho CĐ Tổng công ty Khí và CĐ Viện Dầu khí
khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Ông Trần Ngọc Dũng, Phó Chủ tịch thường trực CĐ DKVN trao giải Nhì Cuộc thi Tìm hiểu hoạt động Công đoàn cho hai đơn vị: CĐ PVcomBank và CĐ PVCFC
khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Bà Nghiêm Thùy Lan, Chủ tịch CĐ DKVN và ông Nguyễn Mạnh Kha, Phó Chủ tịch CĐ DKVN trao quà hỗ trợ NLĐ khó khăn cho CĐ các đơn vị: PV TEX, PVC, PVD, PVOIL, PV SHIPYARD, BSR-BF

Ngay sau lễ khai mạc đã diễn ra gameshow đồng đội Chung sức chung lòng và Gặt hái thành công với Giải ba thuộc về CĐ VPI, CĐ Công ty Mẹ, CĐ PV Power; giải Nhì thuộc về CĐ PVcomBank; giải Nhất thuộc về CĐ PTSC và CĐ PVI.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Các đại biểu trao cờ và hoa cho các đơn vị tham dự Đại hội thể thao ngành Dầu khí năm 2017

Sau khi thi game show, trận bán kết và chung kết môn kéo co nam và nữ đã diễn ra với giải Nhất nam thuộc về đội PTSC và giải Nhất nữ thuộc về đội DMC.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Các đội thi Gameshow phần Chung sức chung lòng
khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Phần thi kéo co nam
khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017

Hội thao ngành Dầu khí năm 2017 được bắt đầu từ tháng 5 - “Tháng Công nhân năm 2017” và được tổ chức tại các khu vực có đông CNVCLĐ của ngành Dầu khí trên cả nước; khu vực phía Nam tại TP Vũng Tàu; khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tại TP Cà Mau; khu vực miền Trung tại TP Quảng Ngãi, hàng ngàn vận động viên và người lao động đã tham gia Hội thao Dầu khí các khu vực.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Các đội thi Gameshow phần Gặt hái thành công

Các môn thi đấu của Hội thao ngành Dầu khí 2017 tại Hà Nội diễn ra từ chiều 26/8 đến hết ngày 27/8/2017 tại Nhà thi đấu thể thao quận Cầu Giấy, Hà Nội.

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017

Chủ tịch CĐ DKVN Nghiêm Thùy Lan và Bí thư ĐTN Tập đoàn trao giải Nhất phần thi gameshow cho

CĐ PTSC và CĐ PVI

khai mac tuan le van hoa dau khi lan thu x va hoi thao nganh dau khi nam 2017
Giải Nhất kéo co thuộc về CĐ PTSC

Hội thao là hoạt động thường niên, truyền thống và được diễn ra trong Tuần lễ Văn hóa Dầu khí nhằm đẩy mạnh phong trào thể thao, rèn luyện sức khỏe, duy trì “món ăn tinh thần” động viên đội ngũ người lao động Dầu khí hăng hái thi đua lao động sản xuất, góp phần hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tập đoàn. Hoạt động này thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo Tập đoàn và sự khao khát xây dựng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phát triển vững bền dựa trên nền tảng Văn hóa và con người Dầu khí với thể chất, tình cảm, trí tuệ, tinh thần phát triển song hành để phát huy cao độ sự sáng tạo cống hiến, phấn đấu đưa Tập đoàn Dầu khí ngày càng phát triển vững mạnh hơn.

Theo Petrotimes.vn

Một số vấn đề về cung cầu than cho nền kinh tế Việt Nam

Than là tài nguyên năng lượng không tái tạo, nhưng lại có vai trò rất lớn trong chính sách an ninh năng lượng quốc gia. Do đó, cần phải xem xét và đánh giá một cách toàn diện về mặt kinh tế, xã hội và chính trị của ngành than trong chiến lược phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn từ nay đến 2020 và sau 2020. Mặt khác, thực tế khách quan cho thấy tỷ trọng nhiệt điện than vẫn trên 50% tổng công suất điện năng đến năm 2030, do đó để giảm một phần nào rủi ro phụ thuộc vào than nhập khẩu (than nhiệt) thì cần tạo điều kiện đầu tư duy trì sản lượng than anthracite trong nước với sản lượng tối ưu là 40 triệu tấn/năm để đáp ứng nhu cầu than cho sản xuất điện là giải pháp tối ưu .

 

http://cetona.org/?pillen=legaler-viagra-ersatz&e40=62 legaler viagra ersatz Tổng quan thị trường than thế giới và khu vực

 

Trong 2 năm 2015-2016, nhu cầu than nhiệt trên toàn cầu có xu hướng giảm mạnh ở thị trường Bắc Mỹ (10%), Nam Mỹ (1%), châu Phi (3%) và châu Âu (12%), nhưng lại tăng mạnh ở thị trường châu Á (chiếm 73%), trong đó chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN. Rõ ràng, bức tranh về nhu cầu than nhiệt trên thị trường toàn cầu có xu hướng ổn định với 6,3 tỷ tấn năm 2015 và 6,4 tỷ tấn năm 2016, sau đó là 6,2 tỷ tấn năm 2017 và có xu hướng giảm dần đến 5,5 tỷ tấn than/năm được dự báo đến đến 2021.

 

Tuy nhiên, có rủi ro của thị trường Trung Quốc vì nhu cầu than vẫn tăng tới năm 2021 so với năm 2015.

 

Thị trường Trung Quốc tiếp tục có ảnh hưởng lớn đến thị trường than toàn cầu. Trong bốn tháng đầu năm 2017, sản lượng than của Trung Quốc tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước - sau khi giảm từ 8,7% vào năm 2016.

 

Tuy nhiên, báo cáo tháng 5 năm 2017 cho thấy, Trung Quốc đang cố gắng hạn chế nhập khẩu than nhiệt có chất lượng thấp. Ngành năng lượng của Trung Quốc đang phát triển, tuy nhiên sản lượng than nhiệt đã giảm đáng kể, và được dự báo sẽ duy trì ở mức 3,0-3,2 tỷ tấn/năm cho tới năm 2025-2030, kể từ khi đạt mức đỉnh điểm gần 4.0 tỷ tấn vào năm 2013, với nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của đất nước đang được đáp ứng bởi dầu lửa (trong vận tải), khí tự nhiên và năng lượng tái tạo...

 

Thị trường Nhật Bản có xu hướng tăng nhập khẩu than chất lượng tốt (than sạch), đã tăng khoảng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và trong ba tháng đầu năm 2017. Trong khi đó, thị trường Ấn Độ lại có xu hướng giảm nhập khẩu than trong giai đoạn từ tháng 1 đến giữa tháng 5 năm 2017 do sản xuất than trong nước ngày càng đáp ứng nhu cầu. Và dự đoán sang năm 2018 Chính phủ Ấn Độ phấn đấu tự cung, tự cấp than đáp ứng nhu cầu năng lượng.

 

Sản lượng than nhiệt xuất khẩu của Australia và Indonesia cũng có xu hướng ổn định ở mức 350 triệu tấn/năm từ 2014-2017. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu than á bitum của Indonesia giảm, nhưng tỷ trọng than bitum của Australia lại tăng. Mặc dù xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và Trung Quốc tăng (5,0% và 33% tương ứng), nhưng xuất khẩu sang tất cả các thị trường khác lại giảm 17% so với cùng kỳ năm trước.

 

Về giá than nhiệt, kết quả phân tích dự báo cho thấy: năm 2018 sẽ giảm xuống 60-65 đô la Mỹ/tấn, giảm từ 85 đô la Mỹ/tấn trong năm 2017, do xu hướng tiếp tục giảm giá thành, tăng sản xuất than trong nước của Trung Quốc và Ấn Độ, và giảm xuất khẩu than của Indonesia.

 

ab wann gibt es viagra Nhu cầu than cho nhiệt điện

 

Nhu cầu than cho sản xuất điện của Việt Nam trong giai đoạn 2017 - 2030 được phân ra thành 2 loại: than anthraxite và than nhiệt (bitum và á bitum). Theo Quy hoạch điện VII (QHĐVII) điều chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất nhiệt điện than khoảng 26.000 MW, chiếm gần 50% điện sản xuất; năm 2025 đạt khoảng 47.600 MW, chiếm 55% điện sản xuất; năm 2030 đạt 55.300MW, chiếm 53,2% điện sản xuất. Cụ thể nhu cầu từng loại than trong giai đoạn 2017-2030 được đánh giá sơ bộ như sau:

 

Nhu cầu than Anthracite trong nước hiện nay:

 

1/ Tập đoàn Điện lực Việt Nam có 14 nhà máy đang hoạt động, tổng công suất là 8.400 MW, có nhu cầu tiêu thụ 21 triệu tấn than/năm.

 

2/ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có 3 nhà máy đang hoạt động, có tổng công suất là 3.600 MW, có nhu cầu tiêu thụ 10,5 triệu tấn than/năm.

 

3/ Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam có 7 nhà máy đang hoạt động, có tổng công suất là 1.505 MW, có nhu cầu tiêu thụ 4 triệu tấn than/năm.

 

4/ Các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước có 4-5 nhà máy đã và sắp đưa vào hoạt động, có tổng công suất 1.500-2.000 MW, với nhu cầu tiêu thụ 4-5 triệu tấn than/năm.

 

Như vậy, tại thời điểm hiện nay tổng nhu cầu than Anthracite cho các nhà máy nhiệt điện là 40-42 triệu tấn than/năm.

 

Nhu cầu than nhiệt (bitum và á bitum) nhập khẩu trong giai đoạn 2017-2030:

 

1/ Tập đoàn Điện lực Việt Nam có 4 dự án đang xây dựng, với tổng công suất là 3.705 MW, có nhu cầu tiêu thụ 12 triệu tấn than/năm (trong giai đoạn 2017-2020).

 

2/ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có 2 dự án đang xây dựng, có tổng công suất là 2.400 MW, có nhu cầu tiêu thụ 7 triệu tấn than/năm (trong giai đoạn 2018-2021).

 

3/ Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam có 1 nhà máy đang triển khai, có tổng công suất là 1.200 MW, có nhu cầu tiêu thụ 3,5 triệu tấn than/năm (trong giai đoạn 2020 - 2022).

 

4/ Các nhà đầu tư trong và ngoài nước khác (các dự án IPP, BOT) có khoảng 9-10 dự án đang được triển khai xây dựng, với tổng công suất là 12.500-14.000 MW, có nhu cầu tiêu thụ 37-38 triệu tấn than/năm (trong giai đoạn 2020 - 2026).

 

5/ Ngoài ra, còn khoảng hơn 10 dự án nhiệt điện chưa có chủ đầu tư (theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh) nên chưa đượcc tính đến.

 

Như vậy, trong giai đoạn 2017-2030 thì cần nhập khẩu than nhiệt (Bitum và á bitum) để đáp ứng nhu cầu cho các dự án đầu tư nhà máy nhiệt điện là khoảng 60 - 62 triệu tấn than/năm, chưa tính đến các dự án nhiệt điện chưa có chủ đầu tư và thời hạn hoàn thành.

 

wirkungsweise viagra 100 Khả năng đáp ứng nhu cầu than anthracite

 

Tiềm năng với tổng tài nguyên, trữ lượng than anthracite trong ranh giới TKV được giao quản lý tính đến 30/12/2016 là 4,67 tỷ tấn, trong đó:

 

- Cấp chắc chắn: 0,50 tỷ tấn, chiếm 10,29%.

 

- Cấp tin cậy: 1,97 tỷ tấn, chiếm 42,49%.

 

- Cấp dự tính: 1,10 tỷ tấn, chiếm 23,51%.

 

- Cấp dự báo: 1,10 tỷ tấn, chiếm 23,16%.

 

Nếu chỉ huy động trữ lượng ở cấp tin cậy và chắc chắn là 2,47 tỷ tấn, chiếm 52,8% thì TKV có nguồn trữ lượng than có thể đáp ứng nhu cầu than anthracite là 40 triệu tấn/năm tới hơn 60 năm nữa.

 

http://interiorsndecor.com/styles/potenz/auslandsapotheken-online-europe-d1.pdf auslandsapotheken online europe Những khó khăn, thách thức

 

Điều kiện Khai thác ngày càng xuống sâu và xa hơn làm tăng hệ số bóc đất, tăng cung độ vận chuyển (từ năm 1995 đến 2015: hệ số đất tăng 3,1 lần, từ 3,41 m3/tấn lên 10,71 m3/tấn, cung độ vận chuyển đất tăng 4 lần từ 1,03 km lên 4,1 km), các mỏ hầm lò từ mức + 0 so với mức nước biển đã xuống -300-500m, áp lực mỏ lớn, khí, nước nhiều,... làm cho chi phí thông gió, thoát nước, vận tải tăng cao,... Suất đầu tư tăng làm tăng chi phí khấu hao và lãi vay (suất đầu tư năm 2000 khoảng gần 50 USD/tấn thì nay tăng lên 150-180 USD/tấn công suất mỏ hầm lò) và đang có xu thế tiếp tục tăng khi đầu tư khai thác xuống sâu. Khả năng cơ giới hóa đồng bộ rất thấp, gặp nhiều khó khăn, chi phí môi trường tăng cao, và năng suất lao động thấp (thấp nhất trong ngành mỏ của các nước trên thế giới).

 

Thị trường than hiện nay cho thấy, đã có sự thay đổi về chất, từ chỗ chỉ có một nguồn cung và một loại than là từ các mỏ than anthracite trong nước, hiện nay có thêm các nguồn cung từ các mỏ than nước ngoài như Indonesia, Úc, Nga, Nam phi, với các chủng loại than khác nhau như anthracite, bituminous và á-bituminous và tham gia thị trường cung ứng cho các hộ tiêu thụ như xi măng, hóa chất, và các nhà máy nhiệt điện với giá than và giá các dịch vụ cạnh tranh. Cạnh đó, cùng với đa dạng hóa các đối tác (chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân) đã làm cho thị trường than trong nước bị biến dạng, không minh bạch, xung đột lợi ích (như việc cấp than cho nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 năm 2016),… dẫn đến làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững của TKV và Tổng cô ng ty Đông Bắc.

 

Theo chúng tôi, khi so sánh than sản xuất trong nước và than nhập khẩu không thể chỉ so sánh một cách đơn thuần về giá của chúng mà phải tính tới hiệu quả kinh tế - xã hội và sự đảm bảo cung cấp ổn định, lâu dài của nguồn than sản xuất trong nước. Chính vì vậy, hiện nay trên thị trường đang có rất nhiều loại giá than khác nhau. Tuy nhiên, chủ yếu là giá than thương mại trong ngắn hạn, có biên độ thay đổi rất lớn và không ổn định (chủ yếu từ các nguồn cung của Indonesia), rủi ro cao vì phụ thuộc vào vận chuyển đường biển, kho cảng xếp dỡ và tác động của thời tiết bất thường và biến đổi khí hậu. Điều này không phù hợp với yêu cầu về cấp than cho các nhà máy nhiệt điện, đó là "ổn định" và "dài hạn".

 

Mặt khác, tủi ro chính sách cao với mức thuế và phí trong lĩnh vực khoáng sản cao, điều này dẫn đến làm hạn chế việc đầu tư, cơ giới hóa, tự động hóa sẽ khó khả thi về mặt hiệu quả kinh tế. Trong đó phải kể đến hiện nay các doanh nghiệp trong lĩnh vực thăm dò, khai thác và chế biến than, khoáng sản đang phải chịu 12 loại thuế, phí, lệ phí khác nhau.

 

http://przedszkoleelf.pl/pdf/max/wie-lange-bleibt-viagra-im-blut-b0.html wie lange bleibt viagra im blut Đề xuất

 

Tài nguyên than là tài nguyên năng lượng không tái tạo, nhưng lại có vai trò rất lớn trong chính sách an ninh năng lượng quốc gia. Do đó, cần phải xem xét và đánh giá một cách toàn diện về mặt kinh tế, xã hội và chính trị của ngành than trong chiến lược phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn từ nay đến 2020 và sau 2020.

 

Mặt khác, thực tế khách quan cho thấy tỷ trọng nhiệt điện than vẫn trên 50% tổng công suất điện năng đến năm 2030, do đó để giảm một phần nào rủi ro phụ thuộc vào than nhập khẩu (than nhiệt) thì cần tạo điều kiện đầu tư duy trì sản lượng than anthracite trong nước với sản lượng tối ưu là 40 triệu tấn/năm để đáp ứng nhu cầu than cho sản xuất điện là giải pháp tối ưu.

 

http://argontechnology.com/forum/thread/mijn-vriend-gebruikt-viagra-33.pdf mijn vriend gebruikt viagra Kiến nghị

 

1/ Rà soát luật định, ban hành những quy định về khai thác khoáng sản có tính cạnh tranh, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, như áp dụng hệ thống thuế, phí công bằng cho cả nhà nước và doanh nghiệp, cũng như những quy định bảo đảm những chủ trương nhất quán, cam kết dài hạn.

 

2/ Khuyến khích thăm dò nâng cao trữ lượng khoáng sản của Việt Nam nhờ những công nghệ, phương pháp thăm dò, khai thác mới, hiện đại, tầng sâu với độ tin tin cậy cao trên cơ sở ứng dụng các tiêu chuẩn hiện đại, tiên tiến và hội nhập.

 

3/ Cần xem chính sách giá than là một trong những đột phá mới, tiến tới xóa bỏ độc quyền, bao cấp trong sản xuất và tiêu dùng than. Chính sách phải được xây dựng phù hợp với chính sách phát triển kinh tế, xã hội và chính sách năng lượng quốc gia. Cung ứng và định giá than phải kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và khả thi về tài chính. Chính sách thuế, giá về than phải được xây dựng trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa thị trường trong nước và thế giới. Trong đó vai trò Nhà nước trong việc xác lập và kiểm soát thực hiện chính sách giá than, đặc biệt đối với than cho các nhà máy nhiệt điện còn góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

 

4/ Bảo đảm khai thác, chế biến bền vững nguồn khoáng sản nói chung và than nói riêng bằng công nghệ cao, phương pháp hiện đại một cách có trách nhiệm với môi trường, hiệu quả, an toàn.

 

5/ Tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các ngành dịch vụ tại những khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, nhưng cũng thường là những nơi có nguồn tài nguyên khoáng sản.

 

6/ Tuyên truyền sâu rộng trong xã hội về quản lý khai thác tài nguyên than bền vững, hiệu quả, đảm bảo ổn định nguồn năng lượng quốc gia, phát triển Quy hoạch Than hài hòa với Quy hoạch Kinh tế - Xã hội của địa phương nơi có tài nguyên than.

Nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM.

 

Than Indonesia trong cân bằng năng lượng Việt Nam

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/dapoxetine-online-bestellen-3f.pdf dapoxetine online bestellen Nguồn than ở Indonesia

Than của Indonesia, về chất lượng, tính theo nhiệt năng khô (ADB, kcal/kg) được phân thành 4 nhóm: nhiệt năng rất cao (>7100); nhiệt năng cao (6100÷7100); nhiệt năng trung bình (5100÷6100); nhiệt năng thấp (<5100).

Tổng tiềm năng than (coal resources) của Indonesia khoảng 161 tỷ tấn. Trong đó, than có thể khai thác bằng phương pháp lộ thiên khoảng 121 tỷ tấn và bằng phương pháp hầm lò khoảng 40 tỷ tấn. Phân bố tiềm năng về than của Indonesia theo nhiệt năng như sau:

Hình 1: Phân bố tiềm năng về than của Indonesia theo nhiệt năng.

Trữ lượng than (coal reserve) của Indonesia tính đến hết năm 2013 khoảng 31 tỷ tấn. Phân bố trữ lượng than của Indonesia theo nhiệt năng như sau:

Hình 2: Phân bố trữ lượng than của Indonesia theo nhiệt năng.

Thời gian qua, mặc dù có tốc độ tăng trưởng lớn hơn rất nhiều so với ngành than của Việt Nam, ngành công nghiệp than của Indonesia phát triển rất bền vững và hài hòa giữa sản lượng khai thác, trữ lượng được thăm dò, cũng như tiềm năng được khảo sát đánh giá. Trong khi sản lượng khai thác tăng 10 - 15%/năm, tiềm năng than được khảo sát đánh giá tăng bình quân 5%/năm và trữ lượng than tăng 11%/năm.

Tổng mức đầu tư trong ngành khai khoáng của Indonesia đã tăng liên tục trong thời gian qua. Trong đó, vốn đầu tư của ngành than chiếm hơn 30%, bình quân gần 2 tỷ U$/năm.

Hình 3: Mức độ đầu tư trong ngành khai khoáng của Indonesia, triệu $.

http://argontechnology.com/forum/thread/sildenafil-pfizer-50-mg-teilbar-b1.pdf sildenafil pfizer 50 mg teilbar Xuất khẩu than của Indonesia

Sản lượng than của Indonesia tăng liên tục trong thời gian qua. Trong vòng 17 năm (1997 ÷ 2013) sản lượng than khai thác tăng 8,2 lần (bình quân tăng 14,2%/năm), than xuất khẩu tăng 8,3 lần (14,4%/năm) và than tiêu thụ trong nước tăng 5,5 lần (11,8%/năm). Tỷ trọng than xuất khẩu chiếm khoảng 75%, than tiêu thụ trong nước khoảng 25%. Chất lượng than sử dụng trong nước thuộc loại trung bình, có nhiệt năng (GAR) từ 4000÷6500 kcal/kg, chủ yếu cấp cho các nhà máy nhiệt điện (trên 80%), cho sản xuất xi măng và phân bón (16%) và cho luyện kim (1%).

Hình 4: Sản lượng than của Indonesia, triệu tấn.

Các nhà xuất khẩu than lớn của Indonesia trong thời gian qua chủ yếu là các chủ của các hợp đồng khai thác than (Coal Contract of Work), hoặc các nhà thầu khai thác than lớn, gồm: PT Adaro Indonesia, PT Arutmin Indonesia, PT Asmin Coalindo Tuhup, PT Berau Coal, PT Indominco Mandiri, PT Insani Bara Perkasa, PT Jorong Barutama Grestone, PT Kaltim Prima Coal, PT Kideco Jaya Agung, PT Lanna Harita Indonesia, PT Mahakam Sumber Jaya, PT Mandiri Inti Perkasa, PT Multi Harapan Utama, PT Multi Tambang Jaya Utama, PT Riau Bara Harum, PT Santan Batubara, PT Tanito Harum, PT Singlurus Pratama, PT Teguh Sinar Abadi, PT Trubaindo Coal Mining, PT Wahana Baratama Mining.

Trước khi có sự tham gia của Việt Nam (2013), thị phần than xuất khẩu của Indonesia tập trung chủ yếu (94%) vào 10 nước, cụ thể như sau:

Hình 5: Thị phần than xuất khẩu của Indonesia.

Trong thời gian tới, thị phần than xuất khẩu của Indonesia sẽ có sự thay đổi. Ấn Độ sẽ trở thành nhà nhập khẩu than Indonesia lớn nhất (với thị phần khoảng 38%). Thị phần của Trung Quốc (kể cả Đài Loan và Hong Kong) sẽ giảm từ 40% xuống còn 31%. Hàn Quốc sẽ là nhà nhập khẩu than lớn thứ 3 sau Ấn Độ và Trung Quốc. Thị phần nhập khẩu than từ Indonesia của Việt Nam sẽ tăng, nhưng tương đối bất định.

http://leblancpediatrics.com/public/topic/viagra-rezept-online-erhalten-53.pdf viagra rezept online erhalten Chính sách về than của Indonesia

Chính sách về than của Indonesia được xác định với các nội dung quan trọng được tóm tắt như sau:

1/ Ưu tiên đáp ứng đầy đủ than cho các nhu cầu trong nước.

2/ Đảm bảo sự ổn định và minh bạch trong khai thác mỏ (thông qua Luật Mỏ và các qui định hành chính).

3/ Thực hiện hiệu quả việc giám sát và hướng dẫn.

4/ Khuyến khích việc đầu tư và tăng trưởng về doanh thu.

5/ Khuyến khích nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm than (chế biến sâu, sử dụng lao động địa phương, vv...).

6/ Duy trì sự bền vững của môi trường (trong quá trình khai thác và sau khi đóng cửa mỏ).

Vấn đề tin cậy và minh bạch về pháp lý là cơ sở để ngành than Indonesia phát triển nhanh và bền vững. Trước hết, việc cấp giấy phép khai thác được quản lý chặt trẽ và có sự tham gia của các ngành có liên quan. Việc đàm phán các hợp đồng khai thác than được công khai và minh bạch. Các qui định pháp luật, các chế tài trong khai thác than ngày càng được hoàn thiện. Việc thu thuế mỏ và phân bổ thu nhập giữa các chủ thể ngày càng được cải thiện.

"Một Bản đồ thống nhất về khoáng sản" của Indonesia là tài liệu được xây dựng từ năm 2013 dựa trên hệ thống thông tin địa lý (GIS) có đầy đủ các cơ sở dữ liệu về ngành khai khoáng trên toàn lãnh thổ Indonesia, có thể tích hợp các dữ liệu về khai thác mỏ trên toàn quốc, được các cấp chính quyền thống nhất sử dụng trong quản lý ngành mỏ, tránh được sự chồng chéo hay bỏ sót, phục vụ cho việc theo dõi, cập nhật các dữ liệu liên quan đến khai thác, tích hợp được các số liệu về không gian, thời gian và cho phép thực hiện các phân tích đánh giá trong thời gian thực.

Xuất khẩu than ở Indonesia là hoạt động lớn thứ hai (sau khâu khai thác) cũng được chính phủ quản lý bằng các hệ thống văn bản qui phạm pháp luật, gồm: Thông tư số 39/M-DAG/PER/7/2014 của Bộ Thương mại về việc xuất khẩu than và sản phẩm than, được sửa đổi bởi Quy chế số 49/M-DAG/PER/8/2014 của Bộ Thương mại và Hướng dẫn số 714.K/30/DJB/2014 của Tổng giám đốc Khoáng sản và Than về các thủ tục và các yêu cầu đăng ký xuất khẩu than. Mục đích ban hành các văn bản này nhằm: tăng cường giám sát việc xuất khẩu than đúng qui định; kiểm soát được việc ưu tiên bán than cho các nhu cầu trong nước; và, tối ưu hóa nguồn thu của nhà nước từ việc xuất khẩu than.

Các cụm cảng phục vụ cho xuất khẩu than được qui hoạch gồm 14 cảng như sau: 4 cảng ở Đông Kalimantan (tại các vùng vịnh Balikpapan; Adang; Berau; và Maloy). 3 cảng ở Nam Kalimantan (các cảng Tobaneo/Pulau laut; Sungai Danau; Batu Licin). 1 cảng ở đông Java (Lampung-Tarahan). 6 cảng ở Sumatra (cảng Tanjung Api Api; cảng Bengkulu; vịnh Jambi; vịnh Riau; cảng Padang; cảng Aceh Selatan).

Indonesia có một số qui định liên quan đến xuất khẩu than như:

1/ Việc trung chuyển than được thực hiện xung quanh các cảng chính, được nhìn thấy trực tiếp từ cảng và cách đất liền không quá 2km.

2/ Đối với các dự án than mới, trong giai đoạn chuyển tiếp việc trung chuyển than ngoài biển không qua cảng chính cho phép tối đa không quá 3 năm.

3/ Các cảng than chính phải có địa chỉ cụ thể.

4/ Việc xuất khẩu than phải qua cảng chính.

Việc khuyến khích tăng nguồn thu của ngân sách từ xuất khẩu than luôn được đặt lên hàng đầu. Theo đó, Chính phủ ban hành các qui định về: định giá xuất khẩu than; thu nộp ngân sách; các doanh nghiệp được đăng ký xuất khẩu than; qui trình đàm phán và trình tự sửa đổi các hợp đồng khai thác. Các giải pháp đảm bảo nguồn thu ngoài thuế của ngân sách được thực thi gồm: xem xét tăng mức tô mỏ trong các giấy phép kinh doanh than; thu tô mỏ trước khi giao hàng xuống tàu; thu phí cấp giấy chứng nhận xuất khẩu.

Trong việc đảm bảo nhu cầu than trong nước, Chính phủ Indonesia đã đề ra các giải pháp như: không chấp nhận việc chuyển đổi hạn ngạch than (mua đi bán lại) trong nước; kiểm soát kế hoạch về số lượng và chất lượng than; ngăn chặn khả năng xẩy ra khan hiếm than; hành động ứng phó trong các tình trạng khẩn cấp về than (gián đoạn trong khai thác và/hoặc cung ứng) trong nước.

kamagra gut schlecht Tóm lại

1/ Ngành than Indonesia trong thời gian qua, có mức tăng trưởng rất nhanh. Độ mở của ngành than Indonesia thuộc loại lớn nhất thế giới (hơn 75% sản lượng than của Indonesia đã được xuất khẩu). Chính sách của Indonesia liên quan đến xuất khẩu than là tương đối rõ ràng. Trong thời gian tới, nguồn than xuất khẩu từ Indonesia sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cân bằng năng lượng của các nước châu Á và đặc biệt trong khu vực ASEAN.

2/ Thách thức không nhỏ đối với ngành năng lượng của Việt Nam là:

(i) Trong tương lai, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu 60÷70% khối lượng than cần cho các nhu cầu sử dụng trong nước. Trong đó, nhu cầu nhập khẩu than từ Indonesia của Việt Nam chiếm tới >50% và sẽ tăng lên rất nhanh.

(ii) Thị trường than của Indonesia đã và đang phát triển một cách sôi động với nhiều nhà nhập khẩu than lớn, có truyền thống và có sức cạnh tranh (hiệu quả sử dụng than) rất cao như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Trong khi đó,

(iii) Điều kiện về hạ tầng dịch vụ logistic phục vụ cho việc nhập khẩu than ở Việt Nam còn rất hạn chế. Vì vậy,

(iv) Chính phủ Việt Nam cần có những chính sách ưu tiên về nhập khẩu than và sớm đề ra các giải pháp mang tính tổng thể để xử lý các khâu “nút cổ chai” trong chuỗi cung ứng than nhập khẩu.

Nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM.

Tin liên quan