Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Tro, xỉ Nhiệt điện Vũng Áng 1 được cấp miễn phí

http://argontechnology.com/forum/thread/mijn-vriend-gebruikt-viagra-33.pdf mijn vriend gebruikt viagra Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh đơn vị quản lý vận hành Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 sẵn sàng cung cấp miễn phí tro, xỉ cho các doanh nghiệp đủ điều kiện sử dụng nguồn tro xỉ của nhà máy và tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp có thể tiếp nhận nguồn nguyên liệu tro xỉ trên.

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/dapoxetine-online-bestellen-3f.pdf dapoxetine online bestellen  

http://argontechnology.com/forum/thread/sildenafil-pfizer-50-mg-teilbar-b1.pdf sildenafil pfizer 50 mg teilbar Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh thực hiện quản lý và vận hành Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, địa chỉ tại thôn Hải Phong, xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

http://leblancpediatrics.com/public/topic/viagra-rezept-online-erhalten-53.pdf viagra rezept online erhalten  

kamagra gut schlecht Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 có công suất 2x600 MW, khối lượng than tiêu thụ khoảng 2,9 triệu tấn/năm, sản phẩm sau đốt khoảng 0,83 triệu tấn tro bay/năm và 0,18 triệu tấn xỉ/năm.

 

Sản phẩm tro bay của Nhà máy đã được Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng - Bộ Xây dựng cấp giấy chứng nhận chất lượng phù hợp với Quy chuẩn Việt Nam QCVN 16:2014/BXD số 241/2016VKH ngày 16/12/2016 để làm phụ gia tro bay hoạt tính dùng cho bê tông, vữa xây và xi măng, vật liệu xây dựng, gạch không nung...

 

Sản phẩm xỉ đáy lò được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Tĩnh công bố tiêu chuẩn cơ sở xỉ đáy lò của nhà máy theo TCCS 01:2017/ĐLDKHT ngày 08/3/2017 tại Văn bản số 63/TB-TDC ngày 09/3/2017.

 

Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh đơn vị quản lý vận hành Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 sẵn sàng cung cấp miễn phí tro, xỉ cho các doanh nghiệp đủ điều kiện sử dụng nguồn tro, xỉ của nhà máy và tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp có thể tiếp nhận nguồn nguyên liệu tro xỉ trên.

Theo Nangluongvietnam.

 

Cần có đơn vị đầu mối nhập khẩu than cho EVN

Để đáp ứng đủ nhu cầu than cho các nhà máy nhiệt điện theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, cần khoảng 70 triệu tấn than/năm. Trong khi đó, theo quy hoạch ngành than điều chỉnh, đến 2020, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chỉ cung ứng được khoảng 50 triệu tấn/năm. Như vậy, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu khoảng 20 triệu tấn/năm. Xung quanh câu chuyện này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Khắc Sơn - Tổng giám đốc Tổng Công ty Phát điện 1 (EVNGENCO 1) - đơn vị đầu tiên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được phép nhập khẩu than.

 

PV: Nhiệt điện Duyên Hải 3 là nhà máy đầu tiên của EVNGENCO 1 được chủ động nhập khẩu than. Ông có thể cho biết rõ hơn lý do?

 

can co don vi dau moi nhap khau than cho evn

 

Ông Nguyễn Khắc Sơn: Trước yêu cầu cấp bách, đảm bảo đủ nhiên liệu cho Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3, kịp thời bổ sung nguồn điện cho các tỉnh, thành phía Nam, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép EVN được chủ động nhập khẩu than.

 

Công nghệ, thiết bị của Nhiệt điện Duyên Hải 3 phù hợp với than của Indonesia và Australia. Tuy nhiên, Indonesia có lợi thế hơn vì gần Việt Nam, chi phí vận chuyển thấp và có khả năng cung cấp than với khối lượng lớn. Là chủ đầu tư nhà máy, EVNGENCO 1 đã chủ động nhập than từ Indonesia phục vụ cho quá trình chạy thử nghiệm và vận hành thương mại. Hiện nay, EVNGENCO 1 đã nhập khoảng 2,350 triệu tấn than và thời gian tới sẽ nhập khẩu thêm khoảng 1 triệu tấn than.

 

Như vậy, Nhiệt điện Duyên Hải 3 là nhà máy đầu tiên của EVNGENCO 1 được chủ động nhập khẩu than với khối lượng lớn.

 

PV: Là đơn vị đầu tiên của EVN trực tiếp được nhập khẩu than, vậy trong quá trình đàm phán, EVNGENCO 1 gặp khó khăn gì?

 

Ông Nguyễn Khắc Sơn: Hiện nay, TKV và Tổng Công ty Đông Bắc là hai đầu mối được Chính phủ cho phép khai thác và nhập khẩu than cung cấp cho các nhà máy điện. Vì vậy, trình tự, thủ tục, cơ sở pháp lý cho việc nhập khẩu than chưa có quy định riêng áp dụng cho các đơn vị khác.

 

Bên cạnh đó, EVNGENCO 1 lại chưa có kinh nghiệm và hiểu biết sâu về thị trường than thế giới cũng như các thông lệ quốc tế trong lĩnh vực giao thương. Khi tiến hành đàm phán mua than của Indonesia, các quy định của Indonesia và Việt Nam cũng có nhiều khác biệt, nên EVNGENCO 1 gặp rất nhiều khó khăn. Quá trình đấu thầu, đàm phán được tiến hành qua nhiều khâu và đều báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

 

Ngoài ra, Cảng than Duyên Hải đang trong quá trình nạo vét. Vì vậy, việc sử dụng tàu có tải trọng lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào tiến độ nạo vét. Đây cũng là khó khăn đặt ra cho cả các đơn vị mời thầu và tham dự thầu.

 

PV: EVNGENCO 1 đã giải quyết những khó khăn trên như thế nào?

 

Ông Nguyễn Khắc Sơn: Trên cơ sở kế hoạch chạy thử nghiệm, vận hành thương mại và các thông số kỹ thuật của nhà máy, EVNGENCO 1 xác định nguồn than và số lượng than cần nhập khẩu. Đồng thời, trên cơ sở phân tích biến động của thị trường than thế giới, hồ sơ mời thầu và các vấn đề liên quan khác, tổng công ty sẽ xác định chi phí cần thiết để tiến hành các thủ tục nhập khẩu than.

 

Theo đó, các trình tự, thủ tục nhập khẩu than cho Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 được thực hiện theo hình thức đấu thầu quốc tế. Trong suốt quá trình đàm phán, đấu thầu, EVNGENCO 1 thường xuyên báo cáo Tập đoàn, xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc đảm bảo nhập đủ than chạy thử nghiệm và vận hành thương mại.

 

Điều quan trọng là phải lựa chọn được nhà cung cấp than phù hợp, giá cả ổn định, đảm bảo an ninh cũng như các vấn đề khác có thể xảy ra trong quá trình cung cấp than. Nói một cách ngắn gọn, là phải chọn nhà thầu đủ năng lực nhập khẩu than.

 

can co don vi dau moi nhap khau than cho evn
Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3

 

PV: Nếu thời gian tới, EVN được hoàn toàn chủ động nhập khẩu than, theo ông cần bổ sung những quy định gì về mặt pháp lý?

 

Ông Nguyễn Khắc Sơn: Việc EVN được chủ động nhập khẩu than là cần thiết, nhưng quan trọng là cách làm như thế nào. Nếu tất cả đơn vị, nhà máy, tổng công ty thuộc EVN trực tiếp nhập khẩu than thì sẽ lãng phí nguồn nhân lực và gây xáo trộn thị trường. Vì vậy, phải thành lập một đơn vị chịu trách nhiệm nhập khẩu than và cung cấp cho các nhà máy điện của EVN. Khi đó, việc mua than nhập khẩu của EVN sẽ đơn giản và chủ động hơn.

 

Tuy nhiên, theo quy định, việc nhập khẩu than hiện nay chủ yếu giao cho ngành than. Vì vậy, nếu EVN được phép chủ động nhập khẩu than thì các quy định, cơ sở pháp lý của Nhà nước cũng cần phải bổ sung, điều chỉnh kịp thời, phù hợp với thông lệ quốc tế.

 

PV: Xin cảm ơn ông!

 

Hạ An

Theo Petrovietnam.

 

Chuẩn bị cấp phép cho ba dự án nhiệt điện than mới

 

http://cetona.org/?pillen=legaler-viagra-ersatz&e40=62 legaler viagra ersatz Trong cuộc trả lời phỏng vấn mới đây với hãng tin Reuters, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết: Ba dự án nhiệt điện than của các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc và Arab Saudi có tổng công suất 3.720 MW, với số vốn đầu tư lên tới 7,5 tỷ USD sẽ được cấp phép trước khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới thăm Nhật Bản vào tháng 6 tới đây. (Tuy nhiên, ông Dũng không nói rõ những dự án cụ thể nào và vị trí xây dựng ở đâu).

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, Công ty Teakwang Power Holdings (Hàn Quốc) và ACWA Power (Arab Saudi) sẽ đầu tư 2,07 tỷ USD cho nhà máy điện với công suất 1.200 MW. Mỗi nhà đầu tư sẽ giữ 50% cổ phần của nhà máy và dự kiến đi vào vận hành thương mại vào năm 2021.

Với Công ty Marubeni (Nhật Bản) và Korea Electric Power sẽ đầu tư 2,79 tỷ USD vào một dự án nhà máy điện công suất 1.200 MW khác, dự kiến đi vào hoạt động vào năm 2021. Hai nhà đầu tư cũng sẽ nắm giữ một nửa cổ phần của dự án.

Tập đoàn Sumitomo của Nhật Bản sẽ đầu tư khoảng 2,64 tỷ USD cho dự án nhà máy điện có công suất 1.320 MW, và sẽ hoạt động vào năm 2022. Dự án này dự kiến sẽ được cấp giấy phép vào cuối năm nay.

Theo Nangluongvietnam.

Australia là quốc gia cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam

Theo thống kê của Coal Information, các quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu than lớn trên thế giới (bao gồm Australia, Indonesia, Liên bang Nga, Mỹ, Nam Phi, Nam Mỹ, Canada, Trung Quốc và Phần Lan (IEA, 2012). Australia hiện cũng là nước cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam thời gian qua... Thông tin tại Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017 cho biết.

 

Theo thống kê của Coal Information, các quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu than lớn trên thế giới (bao gồm Australia, Indonesia, Liên bang Nga, Mỹ, Nam Phi, Nam Mỹ, Canada, Trung Quốc và Phần Lan (IEA, 2012). Australia hiện cũng là nước cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam thời gian qua... Thông tin tại Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017 cho biết.

 

ab wann gibt es viagra Than nhập khẩu tăng cao cả về lượng và giá trị

 

 

Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017.

 

Tại Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017, các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, đại biểu cho chuỗi cung ứng năng lượng của Australia chia sẻ với đối tác phía Việt Nam về kinh nghiệm và công nghệ mới nhất trong ngành năng lượng.

 

Báo cáo tham luận tại Diễn đàn cho biết: Để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam đang chuyển đổi từ nước xuất khẩu năng lượng sang nhập khẩu năng lượng. Nếu như trước đây, Việt Nam từng xuất khẩu than lớn với đợt cao điểm lên đến 20 triệu tấn/năm, thì từ năm 2016 Việt Nam đã nhập khẩu gần 10 triệu tấn than. Dự kiến, Việt Nam cũng sẽ phải nhập khẩu 17 triệu tấn than, chiếm khoảng 31% nhu cầu than cho phát điện vào năm 2020 và tăng mạnh hơn vào những năm sau đó. Đồng thời, Việt Nam cũng xem xét tăng cường nhập khẩu điện từ các nước láng giềng.

 

Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa cho rằng, những thế mạnh của Australia trong lĩnh vực than, khí, với các công nghệ mới phù hợp với nhu cầu của Việt Nam nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Vì vậy, tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực năng lượng giữa hai quốc gia là rất lớn.

 

Theo bà Thoa, trong 15 năm trở lại đây, mức tăng trưởng điện năng thương mại đã liên tục tăng cao và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Nhu cầu điện năng cũng tăng nhanh với mức 13% trong giai đoạn 2006-2010 và 11% trong 5 năm gần đây. Dự kiến, ít nhất trong 10 năm nữa, nhu cầu điện năng sẽ tăng trưởng trên dưới 10%.

 

Bà Janelle Casey, Tham tán Thương mại tại Việt Nam cho biết, Australia có giải pháp hoàn chỉnh và tiên tiến cho chuỗi cung ứng than. Công nghệ khai thác than ở Australia ngày càng được cải tiến và ứng dụng công nghệ cao. Sự cải tiến liên tục về công nghệ khai thác mỏ, về sức khoẻ nghề nghiệp, sự an toàn và hiệu suất môi trường bảo đảm rằng Australia là một nhà sản xuất than nhiệt cũng như than cho luyện kim chất lượng cao cho thị trường quốc tế.

Theo Nangluongvietnam.

 

Tổ máy 1 Nhiệt điện Thái Bình 1 hòa lưới điện quốc gia

Vào lúc 18h00 ngày 23/5/2017, tổ máy số 1 Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 đã phát điện hòa lưới thành công vào hệ thống điện quốc gia. Đây là mốc tiến độ có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng của công trình. 

 

Dự án nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư, Tổng Công ty Phát điện 3 (EVNGENCO 3) là đơn vị thực hiện Tư vấn Quản lý dự án với đại điện chịu trách nhiệm quản lý dự án là Ban QLDA Nhiệt điện Thái Bình.

 

Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 được chính thức khởi công vào ngày 22/02/2015, có tổng mức đầu tư là trên 26,5 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) là 85%, còn lại 15% vốn đối ứng của EVN.

 

Nhà máy gồm 2 tổ máy với tổng công suất 600 MW (2x300 MW). Sau khi đưa vào vận hành thương mại, nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 sẽ cung cấp cho hệ thống điện quốc gia sản lượng điện hằng năm là 3,276 tỷ kWh.

 

Việc Nhà máy đi vào hoạt động có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa của tỉnh Thái Bình và một số tỉnh lân cận của đồng bằng Bắc Bộ, cũng như bổ sung thêm nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia.

Theo Nangluongvietnam.

 

Quản lý ngành Than theo thị trường, hay kế hoạch hóa tập trung?

Để tồn tại và phát triển bền vững, ngành Than cần tập trung siết chặt quản lý, đầu tư theo chiều sâu, xây dựng mỏ mới; nâng cao năng suất, chất lượng; cắt giảm chi phí, cạnh tranh thắng lợi với than ngoại và các đối thủ khác. Cần xác định rõ vai trò của ngành Than trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia để hoạt động theo cơ chế nhất quán (nếu đã theo thị trường phải tuân thủ các quy luật thị trường, chỉ định hướng bằng chính sách). Cạnh tranh công bằng sẽ giúp ngành Than thoát khỏi tình trạng yếu kém hiện nay và tiếp tục phát triển.

 

wirkungsweise viagra 100 Thực trạng

 

Gần đây, trong dư luận có nhiều luồng thông tin khác nhau về thực trạng ngành Than. Trong khi nhu cầu sử dụng than trong nước liên tục tăng và tăng cao trong 1 đến 2 năm gần đây, sản lượng than sản xuất trong nước lại tụt dần sau “đỉnh cao” 45 triệu tấn vào năm 2011 và “giậm chân tại chỗ” ở mức 40 triệu tấn trong mấy năm qua.

 

Sản lượng than thấp, kéo theo suy giảm GDP, làm giảm nhiều việc làm, thu nhập của thợ mỏ, ảnh hưởng sự ổn định kinh tế - xã hội vùng mỏ Quảng Ninh; giảm sự đóng góp của ngành Than cho nền kinh tế.

 

Hiện nay, giá bán than sản xuất trong nước cao hơn giá than nhập khẩu, gây ra một nghịch lý chưa từng có trong lịch sử ngành Than. Chỉ tính riêng năm 2016, đã có hơn 12 triệu tấn than từ In-đô-nê-xi-a, Ô-xtrây-li-a, Nga, Trung Quốc, do 52 công ty đưa về Việt Nam, giá trị kim ngạch khoảng 760 triệu USD; trong khi than sản xuất trong nước tồn trong các kho bãi khoảng 12 triệu tấn. Đã hết quý I năm nay, nhưng tình trạng này vẫn chưa được cải thiện.

 

Một nghịch lý khác, các mỏ than lộ thiên nhiều năm được coi là thế mạnh của ngành Than với giá thành thấp hơn nhiều so các mỏ than hầm lò thì hiện nay tình cảnh đã lật ngược. Giá thành một tấn than lộ thiên năm 2016 lên đến 1,5 đến 1,7 triệu đồng, trong khi than hầm lò chỉ khoảng 1,1 đến 1,3 triệu đồng.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng buồn nêu trên của ngành Than, trong đó, có cả lỗi chủ quan của ngành Than và khách quan từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

 

Ngành Than hiện nay gồm: Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc. Trong một thời gian dài, quản lý chi phí, bao gồm cả đầu vào, đầu ra và quá trình sản xuất sản phẩm còn hạn chế. Hiện nay, ngành Than đang trong quá trình tái cơ cấu, hy vọng vấn đề này sẽ sớm được cải thiện.

 

Ở phía các cơ quan nhà nước, dường như thiếu sự nhất quán trong quản lý đối với ngành Than trong mấy năm vừa qua, để xảy ra tình trạng "nửa nạc, nửa mỡ", thị trường không ra thị trường, kế hoạch hoá tập trung không ra kế hoạch hóa tập trung.

 

Từ khi thành lập Tổng công ty Than Việt Nam, ngành Than được giao nhiệm vụ bảo đảm đủ than cho nền kinh tế, bao gồm cả than sản xuất trong nước và nhập khẩu. Các doanh nghiệp sử dụng than cần ký hợp đồng dài hạn với TKV về cung ứng than. Những năm trước 2010-2011, than bán cho các nhà máy nhiệt điện theo giá chỉ đạo của Nhà nước, thường thấp hơn giá bán cho các hộ sử dụng khác và chỉ bằng 60 đến 70% giá thành, đến năm 2010 mới tiệm cận giá thành; TKV phải bù lỗ từ lãi xuất khẩu than.

 

Chính vì lẽ đó, các hộ sử dụng than lớn trong nước, cả đầu tư nước ngoài sau này đều đưa ra yêu cầu TKV ký hợp đồng dài hạn cho cả đời dự án của họ. Từ năm 2015, khi than thế giới dư thừa, Bộ Công Thương “mở cửa” với than ngoại nhưng lại “đóng chặt cửa” đối với than nội, mặc cho TKV nhiều lần khẩn khoản xin phép xuất khẩu than vùng Vàng Danh, Uông Bí (chất bốc thấp, lưu huỳnh cao nhưng có bạn hàng quen thuộc nước ngoài muốn mua). Một số đơn vị sử dụng than tự động rời bỏ TKV, quay sang mua than nhập khẩu vì giá rẻ hơn. Tuy nhiên, đây chính là phá bỏ hợp đồng, lợi trước mắt nhưng hại về sau vì chẳng có nhà nhập khẩu nào cam kết cung cấp than dài hạn như TKV.

 

http://interiorsndecor.com/styles/potenz/auslandsapotheken-online-europe-d1.pdf auslandsapotheken online europe Những bất cập cần tháo gỡ

 

Hiện nay, các loại thuế, phí đánh trực tiếp vào giá thành than khoảng 15 đến 16% (bao gồm thuế tài nguyên, thuế đất, thuế môi trường, phí môi trường, quyền cấp phép khai thác than...), cao hơn khoảng 5 đến 6% so với các nước đang xuất khẩu than vào Việt Nam, trong khi thuế suất thuế nhập khẩu than lại được ưu ái ở mức 0%. Nếu mức thuế, phí của than trong nước là 10% như các nước khác và thuế nhập khẩu than bằng 5% chẳng hạn, đã không có 12 triệu tấn than từ nước ngoài được nhập vào nước ta trong năm 2016.

 

Và, nếu ngành Than quản lý chi phí tốt hơn, sẽ có lãi cao chứ không ở mức thấp như năm qua. Việc thực thi những quy định không hợp lý và sự chậm chạp trong việc cấp phép thăm dò, khai thác than cũng góp phần làm gia tăng giá thành sản xuất than.

 

Ngay sau khi thành lập Tổng công ty Than Việt Nam cuối năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo giao vốn, giao tài nguyên, trữ lượng than cho Tổng công ty và năm 1995, Bộ trưởng Công nghiệp nặng (thời đó, Cục Địa chất - Khoáng sản trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng) đã ban hành quyết định giao tài nguyên, trữ lượng than cho Tổng công ty Than Việt Nam để chủ động thăm dò, khai thác và bảo vệ; Tổng công ty bàn giao ranh giới cho các mỏ than quản lý. Nhờ vậy, Tổng công ty đã chủ động điều chỉnh ranh giới mỏ, chủ động thăm dò (sâu xuống đáy tầng than ở một số nơi), đồng thời mở rộng, đầu tư các mỏ mới.

 

Có thể nói, quyết định giao tài nguyên than cho một chủ thể là Tổng công ty Than Việt Nam đã tạo ra động lực to lớn, giúp đột phá gia tăng nhanh sản lượng than từ 6 triệu tấn năm 1994 lên 42 triệu tấn năm 2009 (tăng bảy lần). Năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, TKV khai thác than không có giấy phép, yêu cầu xin cấp phép lại cho từng mỏ để phù hợp Luật Khoáng sản (ra đời sau quyết định về giao tài nguyên, trữ lượng than nêu trên). Không thuyết phục được Bộ Tài nguyên và Môi trường, TKV phải báo cáo và Thủ tướng Chính phủ chính thức chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép chung cho công ty mẹ TKV cùng với giấy phép cấp cho các công ty con. Tuy nhiên, chỉ đạo này đến nay vẫn chưa được Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết.

 

Nhiều năm qua, than trái phép (than thổ phỉ) vẫn là vấn nạn, một trong nhiều nguyên nhân làm tăng giá thành than. Than ăn cắp, than khai thác trái phép được đưa đi tiêu thụ nhờ tự phát hành hay mua hóa đơn, nhờ không bị truy nguồn gốc xuất xứ hàng hóa. Suy cho cùng, chỉ có TKV, Tổng công ty Đông Bắc và một số công ty nhỏ lẻ có mỏ than, nhưng hóa đơn bán than thì "trăm hoa đua nở".

 

Sự thiếu thống nhất trong quản lý nhà nước ở các địa phương cũng là nguyên nhân khiến nỗ lực ngăn chặn, triệt phá than thổ phỉ trở nên “đầu voi đuôi chuột”. Đơn cử, mỗi khi tỉnh Quảng Ninh ra quân dẹp bỏ bến bãi than trái phép, phía bên kia sông, trên đất Hải Dương và Hải Phòng, lại mọc ra thêm các bến bãi chứa than trái phép công khai hoạt động.

 

Để tháo gỡ bất cập, “cởi trói” cho ngành Than, xin kiến nghị một số vấn đề chính.

 

Trước hết và quan trọng nhất, ngành Than cần kiến nghị Chính phủ xác định lại cho rõ vai trò của ngành đối với việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia để hoạt động theo một cơ chế nhất quán: Đã kế hoạch hóa tập trung thì kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn, đã theo thị trường thì phải tuân thủ các quy luật của thị trường, chỉ định hướng bằng chính sách, không can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính.

 

Căn cứ các quy định luật pháp hiện hành, người viết bài này kiến nghị cho phép ngành Than được hoạt động theo cơ chế thị trường, có nhập khẩu, có xuất khẩu trên cơ sở tự chịu trách nhiệm về hiệu quả; tự vay đầu tư, tự trả nợ. TKV và Tổng công ty Đông Bắc không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc cung cấp đủ than cho nền kinh tế, chỉ chịu trách nhiệm trước khách hàng về hợp đồng đã ký. Các nhà sử dụng than lớn (nhiệt điện, xi-măng...) cũng như nhỏ được tự do lựa chọn nhà cung cấp than và tự chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình cả trước mắt lẫn lâu dài.

 

Nhà nước xem xét điều chỉnh thuế và phí (cả thuế, phí đánh vào than sản xuất trong nước lẫn thuế nhập khẩu than) sao cho phù hợp thị trường, không cao hơn các nước sản xuất than khác trên thế giới, tạo thế cho ngành Than cạnh tranh bình đẳng với than nhập khẩu và gia tăng sản lượng than trong các năm sau. Cần điều chỉnh, sửa đổi Luật Khoáng sản trên cơ sở xem xét kỹ các ý kiến tham vấn của Bộ Công Thương, Hội Khoa học - Công nghệ mỏ Việt Nam, các doanh nghiệp liên quan, để tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp mỏ hiện đại, hiệu quả. Cần cấp phép một lần cho chủ mỏ với quyền thăm dò và khai thác sâu đến đáy tầng than; bãi bỏ điều khoản phạt do tăng sản lượng khai thác hằng năm so với thiết kế.

 

Cũng xin kiến nghị Chính phủ hết sức thận trọng khi quyết định cổ phần hóa hay rút bớt vốn nhà nước tại các công ty than. Ngày 6-4-2016, Chính phủ có văn bản đồng ý bán theo lô đến 65% tổng vốn nhà nước theo hình thức thỏa thuận với bên mua Thai Group (Công ty Xuân Thành trước đây) tại Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc (thuộc TKV), khi tổng công ty này đang quản lý, khai thác ba mỏ: Na Dương, Khánh Hòa và Núi Hồng đang cấp than cho hai nhà máy nhiệt điện Na Dương và Cao Ngạn. Nếu chỉ tính vốn nhà nước trên sổ sách hiện tại của Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc thì quá ít, cái bên mua hướng tới chính là nhiều triệu tấn than đã được TKV thăm dò chi tiết đang nằm dưới lòng đất, nhưng chưa có quy định để tính vào giá trị doanh nghiệp. Đó mới thật sự là giá trị, tài sản lớn của quốc gia, cần được xem xét tính vào giá trị doanh nghiệp.

 

Bài học của LB Nga trước đây, khi Tổng thống En-xin bán rẻ một số mỏ than cho tư nhân, một thời gian sau, Tổng thống Pu-tin phải mua lại các mỏ theo giá thị trường để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Theo Nangluongvietnam.

 

Tin liên quan