Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Không “bắt tay”, logistics ĐBSCL mãi chỉ là... tiềm năng

Tại hội nghị “Thu hút đầu tư, kinh doanh logistics vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)” tổ chức tại thành phố Cần Thơ hôm 9-1-2016, nhiều đại biểu cho rằng ĐBSCL có nhiều tiềm năng để phát triển ngành logistics. Thế nhưng, để ngành này thật sự “cất cánh” là câu chuyện không chỉ một địa phương hay một ngành có thể giải quyết được.

Mạnh ai nấy làm!

Tại hội nghị, một số đại biểu đánh giá rất cao những điều kiện hiện có của ĐBSCL và cho rằng đó là cơ hội để thúc đẩy hạ tầng logistics vùng này phát triển mạnh thời gian tới.

Cụ thể, ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách thuộc Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, cho biết trong tổng số 3.200 ki lô mét bờ biển của cả nước, ĐBSCL có 740 ki lô mét, chiếm 23%; toàn vùng có bảy cảng biển nằm trong cụm cảng biển số 6; 30 khu bến cảng; 57 cảng nội địa và gần 4.000 bến thủy. “Tuy nhiên, hạ tầng và dịch vụ logistics của vùng hiện còn rất kém”, ông đánh giá.

Ngoài ra, theo ông Hiệp, ĐBSCL có 340 ki lô mét đường biên giới giáp Campuchia, chiếm gần 40% đường biên giới trên bộ của Việt Nam - Campuchia; có sáu cửa khẩu quốc tế và 12 cửa khẩu phụ; có hơn 2.000 ki lô mét quốc lộ, 7.700 ki lô mét đường tỉnh, gần 73.000 ki lô mét đường huyện và hơn 14.800 ki lô mét đường thủy; trong đó, có hơn 2.800 ki lô mét đường thủy nội địa quốc gia - là những thế mạnh rất lớn của ĐBSCL.

“Có nhiều tiềm năng, nhưng tại sao logistics của ĐBSCL không phát triển?”, Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ nêu câu hỏi và chỉ ra rằng phương tiện bốc xếp kém, thiếu liên kết cũng như phát triển manh mún, nhỏ lẻ là những nguyên nhân. “Cảng Cái Cui do Vinalines quản lý, phương tiện bốc xếp rất kém, thì làm sao mà phát triển được?”, ông dẫn chứng.

Ông Huệ lại nêu câu hỏi: cảng Cái Cui (Cần Thơ) do Vinalines quản lý và Tân Cảng Cái Cui do Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn quản lý, cầu cảng của hai đơn vị chỉ cách nhau khoảng 200 mét, “nhưng tại sao hai bên không liên kết với nhau để tạo thành một cảng lớn “ngon lành” hơn?”. Cho rằng tỉnh Hậu Giang cách cảng Cái Cui chỉ khoảng bốn ki lô mét, có kho lạnh âm 25 độ C rất là tốt, song ông băn khoăn chuẩn bị làm cảng biển nữa thì không biết sẽ như thế nào...

Thiếu sự phối hợp dẫn đến bố trí đầu tư bất hợp lý, chồng chéo, thậm chí tranh giành lợi ích, nên đến nay logistics của ĐBSCL vẫn chưa phát triển, chưa hề có một luồng tàu biển định tuyến nào kết nối đến ĐBSCL.

Bên hành lang hội nghị này, một số đại biểu cho rằng lẽ ra các địa phương trong vùng nên chọn vị trí phù hợp nhất để tập trung phát triển cảng biển lớn rồi kết nối với các cảng quy mô nhỏ hơn, làm nhiệm vụ trung chuyển hàng hóa cho các doanh nghiệp trong vùng, thay vì mạnh ai nấy làm, theo ý muốn chủ quan của mình như hiện nay. “Đáng trách nhất là địa phương, khi thấy nhà đầu tư có nhu cầu, họ lập tức cấp phép, cho xây dựng ngay với mong muốn có thêm nguồn thu về địa phương, chứ ít khi tính toán xem việc đầu tư đó có giúp cho logistics của vùng phát triển, kinh tế phát triển lên hay không”, một đại biểu nói.

Liên kết - bài toán cho logistics ĐBSCL

Thiếu sự phối hợp dẫn đến bố trí đầu tư bất hợp lý, chồng chéo, thậm chí tranh giành lợi ích, nên đến nay logistics của vùng vẫn chưa phát triển, chưa hề có một luồng tàu biển định tuyến nào kết nối đến ĐBSCL.

Vậy giải quyết bài toán này như thế nào?

Ông Trần Hữu Hiệp cho rằng tiềm năng đã thấy, định hướng đã có qua việc quy hoạch hai trung tâm logistics loại 2 ở ĐBSCL. “Nhưng, để triển khai thực hiện, phải chăng từng tỉnh lại tiếp tục quy hoạch nữa?”, ông nêu câu hỏi.

Theo ông Hiệp, bài toán phát triển ở đây là phải tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng và khu vực để không bị chia cắt theo đơn vị hành chính tỉnh. “Rõ ràng, nếu như mỗi tỉnh tự làm, thì nó không tạo nên một hệ thống hạ tầng dùng chung được, trong đó, có phục vụ cho logistics. Vì vậy, vấn đề logistics phải được đặt ra và xem như nó là một trong những yêu cầu liên kết vùng”, ông gợi ý.

Ông Hiệp cho biết, với câu chuyện liên kết vùng, ĐBSCL được áp dụng một cơ chế tài chính sáng tạo mới, đó là hàng năm được bố trí ít nhất 10% trong tổng vốn đầu tư từ ngân sách cho ĐBSCL để thực hiện các dự án liên kết vùng. “Những dự án này có thể nằm liên tỉnh hoặc trong một tỉnh, nhưng nó phải có tác động tới cả vùng, như vậy, một trung tâm logistics có thể nằm trọn ở Cần Thơ hoặc bao gồm cả tỉnh Hậu Giang hay một vị trí phù hợp khác, nhưng nó phải có tác động cho cả vùng”, ông giải thích.

Tuy nhiên, trong bối cảnh vốn đầu tư từ ngân sách khó khăn như hiện nay thì cái gì ưu tiên trước, cái gì ưu tiên sau, các địa phương phải thống nhất, phối hợp, kể cả các bộ, ngành cũng vậy. “Chúng ta phải đặt vấn đề thu hút đầu tư tư nhân, tất nhiên muốn tư nhân vào phải có chính sách, có quy hoạch tốt và những vấn đề đó cũng liên quan tới sự phối hợp giữa các địa phương, các bộ ngành rất là nhiều”, ông nói.

Theo ông, logistics là hoạt động thương mại, thương nhân tổ chức thực hiện một số hoặc nhiều công việc, gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, đóng gói, bao bì, ghi ký mã hiệu hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao. “Nhưng trong thực tế, nó là dịch vụ tổng hợp, liên quan đến nhiều ngành, gồm giao thông, năng lượng, thủy lợi... cho nên, nếu chỉ một ngành thương mại sẽ không làm tốt dịch vụ này được, vì vậy, cần phải có tiếp cận đa ngành, phối hợp giải quyết liên ngành”, ông phân tích thêm.

Trong khi đó, ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp logistics Việt Nam (VLA), cho biết khu vực ĐBSCL đang thiếu nhân lực trong ngành logistics trầm trọng, vấn đề chất lượng cũng còn nhiều hạn chế. Vì vậy, theo gợi ý của ông, khu vực này cũng nên đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực phục vụ cho ngành logistics. “Có hạ tầng cho logistics phát triển, nhưng không có nhân lực quản lý điều hành cũng không được”, ông nói.

Theo thesaigontimes.vn

Xác định 55 vỉa than trong phần đất liền bể than Sông Hồng

 "Hiện nay, đã xác định được 55 vỉa than nằm trong 5 tập vỉa tính từ trên mặt đến độ sâu khoảng 1.200m ở phần đất liền bể than Sông Hồng....", đây là thông tin được Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2016.

Các hạng mục chính Nhiệt điện Thái Bình 2 cơ bản hoàn thành

Tính đến thời điểm này, các hạng mục chính của Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã cơ bản hoàn thành như: Lò hơi số 1 đã hoàn thành thử áp lực đang triển khai hoàn thiện mái và bảo ôn; Tuabin và các thiết bị phụ trợ đã hoàn thành lắp đặt toàn bộ các thiết bị siêu trường, siêu trọng...

 Trưởng Ban quản lý dự án Nhiệt điện Dầu khí Thái Bình 2, Nguyễn Thành Hưởng, cho biết: Tính đến thời điểm hiện tại, dự án đạt 75% khối lượng. Trong đó, thiết kế đạt 98%; Công tác mua sắm đạt 98%; Gia công chế tạo và vận chuyển đạt 87%; Thi công đạt 64%. Tổng khối lượng lắp đặt đạt 85.000/109.000 tấn kết cấu thép và thiết bị.

Các hạng mục dùng chung giữa nhà máy nhiệt điện Thái Bình (do EVN đầu tư) và Thái Bình 2 (do PVN đầu tư) gồm: đê ngăn bãi thải xỉ, cửa nhận nước làm mát, cửa xả đã được thi công hoàn thành, đủ điều kiện để phục vụ chạy thử, vận hành.

Các hạng mục chính của dự án cơ bản hoàn thành như: Lò hơi số 1 đã hoàn thành thử áp lực đang triển khai hoàn thiện mái và bảo ôn; Tuabin và các thiết bị phụ trợ đã hoàn thành lắp đặt toàn bộ các thiết bị siêu trường, siêu trọng; Các hạng mục ESP, Bunker máy nghiền than, xử lý nước và nước thải, khí nén, lò hơi phụ, SPP 220kV đang trong giai đoạn hoàn thiện.

Trong năm 2017, dự án phải hoàn thành những mục tiêu quan trọng như: đốt lửa lần đầu hai tổ máy (bằng dầu - bằng than), hòa đồng bộ điện hai tổ máy lên lưới điện quốc gia, hoàn thành cấp chứng chỉ phát điện thương mại tạm thời (PAC)...

Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 là một trong các dự án điện trọng điểm quốc gia do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm Chủ đầu tư, đại diện là Ban quản lý dự án Điện lực Dầu khí Thái Bình 2. Đây là một dự án có quy mô lớn, công nghệ phức tạp, thời gian đầu tư xây dựng dài.

Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng cơ chế triển khai theo Quyết định 2414/QĐ-TTg ngày 11/12/2013. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép tạm thanh toán đến 85% giá trị khối lượng công việc xây dựng, lắp đặt, gia công cơ khí trong nước hoàn thành được nghiệm thu; Cho phép điều chỉnh thời điểm kết thúc thu hồi giá trị tạm ứng đối với Tổng thầu PVC khi giá trị thanh toán đạt 95% giá trị Hợp đồng đã ký. Tổng mức Đầu tư (TMĐT) đã được Tập đoàn phê duyệt, là cơ sở thuận lợi để lập Tổng dự toán (TDT) điều chỉnh, hợp đồng EPC. Đồng thời tiến độ Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh theo Quy hoạch Điện VII điều chỉnh.

theo nangluongvietnam.vn

Lãnh đạo Tập đoàn kiểm tra tình hình thi công trên công trường NMNĐ Long Phú 1

Dự án Nhà máy Nhiệt điện (NMNĐ) Long Phú 1 (2x600MW) là dự án điện cấp bách thuộc Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và được phép áp dụng cơ chế đặc thù để đẩy nhanh công tác đầu tư xây dựng công trình điện cấp bách theo Quyết định số 2414/QĐ-TTg ngày 11/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Việc tiến độ hoàn thành dự án NMNĐ Long Phú 1 có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược phát triển lĩnh vực điện của ngành Dầu khí Việt Nam định hướng đến năm 2030 và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển kinh tế khu vực miền Nam giai đoạn 2018 - 2020.
 

Để thúc đẩy tiến độ của dự án NMNĐ Long Phú 1, ngày 13/12/2016, đồng chí Nguyễn Vũ Trường Sơn - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức đi kiểm tra tình hình thi công trên công trường NMNĐ Long Phú 1và chủ trì họp giao ban công trường với các Ban QLDA ĐLDK Long Phú 1. Tham dự cuộc họp có đồng chí Nguyễn Hùng Dũng - Phó Tổng giám đốc, Lãnh đạo các Ban chuyên môn Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Lãnh đạo Liên danh Tổng thầu EPC Power Machines-PTSC cùng các Nhà thầu phụ khác.

Tại cuộc họp giao ban công trường của dự án NMNĐ Long Phú 1 vào hồi 13g30, sau khi Ban QLDA ĐLDK Long Phú 1, Liên danh Tổng thầu Power Machines-PTSC báo cáo kết quả thực hiện và kế hoạch triển khai dự án NMNĐ Long Phú 1 trong thời gian sắp tới, ý kiến đóng góp của đồng chí Nguyễn Hùng Dũng - Phó Tổng giám đốc và các thành viên tham dự họp, đồng chí Nguyễn Vũ Trường Sơn - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã kết luận chỉ đạo nhiều nội dung để tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình triển khai dự án của Liên danh Nhà thầu Power Machines - PTSC cũng như trong công tác điều hành, phối hợp với Liên danh Nhà thầu của Ban QLDA.

Đến thời điểm hiện tại, Dự án đã hoàn thành được khoảng hơn 40% tiến độ và Nhà thầu Power Machines đã cơ bản hoàn thành công tác mua sắm các thiết bị chính, nhập khẩu của Dự án. Tuy nhiên, Dự án đã có một số hạng mục công việc thuộc đường găng tiến độ chậm hoàn thành theo kế hoạch nên Tổng giám đốc Tập đoàn yêu cầu Ban QLDA, Liên danh Tổng thầu Power Machines - PTSC cần có giải pháp quyết liệt để cải thiện tiến độ thiết kế, mua sắm và thi công xây lắp nhằm đạt được mục tiêu phát điện Tổ máy 1 vào tháng 10/2018 theo quy định của Hợp đồng EPC, đặc biệt là đối với phần công việc thuộc trách nhiệm của Nhà thầu Power Machines. Đây là mốc tiến độ thách thức của Dự án và Tổng giám đốc Tập đoàn sẽ hỗ trợ, xử lý tối đa trong thẩm quyền cho phép đối với các nội dung kiến nghị của Ban QLDA, Liên danh Tổng thầu để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện Dự án.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo tiến độ của Dự án, Tổng giám đốc Nguyễn Vũ Trường Sơn đã yêu cầu các đơn vị liên quan cần tăng cường chủ động phối hợp hơn nữa vì mục tiêu chung là sự thành công của dự án, đồng thời yêu cầu Ban QLDA phải sát sao, chỉ đạo Liên danh Nhà thầu tập trung huy động, bổ sung các nguồn lực cần thiết (tài chính, kỹ thuật, chuyên gia/kỹ sư có đủ năng lực và kinh nghiệm,...) để triển khai công việc theo đúng yêu cầu về chất lượng, tiến độ của Hợp đồng EPC đã ký.

Trong quá trình triển khai, Tổng giám đốc Tập đoàn yêu cầu Ban QLDA và Liên danh Tổng thầu tăng cường giám sát, đảm bảo an toàn lao động, điều kiện về vệ sinh môi trường và an sinh xã hội theo các quy định của Nhà nước, pháp luật.

Theo pvn.vn

Tin liên quan