Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Thông tin về gói thầu Hệ thống khử lưu huỳnh Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1

Tất cả các thiết bị chính của gói thầu M05 - Hệ thống khử lưu huỳnh tại Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 đều có nguồn gốc EU/G7 và không có bất kỳ hệ thống, thiết bị nào có xuất xứ Trung Quốc.

Chủ đầu tư giám sát chặt quá trình mời thầu

Thời gian gần đây, trên một số phương tiện truyền thông đã đăng tải thông tin cho rằng, việc triển khai gói thầu M05 tại Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 có vấn đề, thậm chí cho rằng, có một số thiết bị, công nghệ Trung Quốc đã “lọt” vào dự án. Trong khi đó, theo thiết kế ban đầu và Hợp đồng EPC được chủ đầu tư ký với Tổng thầu EPC là Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) thì dự án sẽ sử dụng công nghệ bản quyền tiên tiến của EU/G7. Điều này đã dấy lên ý kiến cho rằng, đã có sự mập mờ, thiếu minh bạch, hoài nghi về trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức có liên quan trong việc triển khai gói thầu M05 của dự án.

Nhưng thực tế, theo báo cáo của LILAMA báo cáo Bộ Công Thương tại Công văn số 935/TCT-KTKT ngày 18-7-2017, các thiết bị, công nghệ trong gói thầu M05 tại Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 hoàn toàn không có thiết bị Trung Quốc, các thiết bị chính đều có nguồn gốc EU/G7, đặc biệt, việc lựa chọn nhà thầu đã được tổng công ty thực hiện một cách nghiêm túc theo chỉ đạo của Phó thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình tại Công văn số 5826/VPCP-V.I ngày 6-6-2017, chỉ đạo của Bộ Công Thương tại Công văn số 5205/BCT-TCNL ngày 14-6-2017, tuân thủ theo hồ sơ yêu cầu đã phát hành và theo những yêu cầu khắt khe nhất của chủ đầu tư.

thong tin ve goi thau he thong khu luu huynh du an nhiet dien song hau 1
Vận chuyển máy biến áp chính vào công trường NMNĐ Sông Hậu 1

Theo LILAMA, ngay sau khi Hợp đồng EPC có hiệu lực, LILAMA đã triển khai lập Hồ sơ yêu cầu (HSYC) cho gói thầu M05-FGD gửi chủ đầu tư để góp ý. Trên cơ sở góp ý của chủ đầu tư về nội dung của HSYC, LILAMA đã phê duyệt HSYC và ngày 5-8-2015 phát hành HSYC tới các nhà thầu phụ đã được phê duyệt là Alstom, Hamon Reseach-Cottrell Gmb (Hamon), KC-Cottrell Co., Ltd (KC-Cottrell), Mitsubishi Hitachi Power System, Co.Ltd (MHPS) và Kawasaki Heavy Industries, Co.Ltd (KHI). Đến thời điểm đóng thầu (ngày 14-9-2015) có 3 nhà thầu nộp hồ sơ đề xuất (HSĐX) theo đúng thời gian quy định của HSYC là Hamon, MHPS và KC Cottrell.

Việc lựa chọn các nhà thầu cũng được thực hiện dựa trên việc xem xét, đánh giá tổng thể về năng lực, kinh nghiệm đã thực hiện các dự án tương tự; năng lực tài chính của các nhà thầu; xem xét đề xuất kỹ thuật, đề xuất thu xếp vốn… Chẳng hạn như trong giai đoạn đầu, sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố của 3 nhà thầu là Hamon, MHPS và KC Cottrell, LILAMA xác định chỉ có Hamon và MHPS đáp ứng cơ bản các tiêu chí kỹ thuật theo HSYC, nhà thầu KC-Cottrell không đáp ứng HSYC. Nhưng vì mức giá đề xuất của Hamon và MHPS cao hơn dự toán của gói thầu nên kết quả chào thầu lần này không được chủ đầu tư chấp thuận, đồng thời chủ đầu tư đã yêu cầu LILAMA mời thầu lại. Trên cơ sở thống nhất giữa chủ đầu tư và LILAMA, LILAMA đã mời 3 nhà thầu đã tham dự (Hamon, KC Cottrell và MHPS) nộp lại HSĐX (bao gồm: kỹ thuật, thu xếp vốn và giá trên cơ sở bổ sung, làm rõ HSYC). Trong lần chào thầu này, đến thời điểm đóng thầu (gia hạn đến 30-9-2016) chỉ có 2 nhà thầu Hamon và KC-Cottrell nộp HSĐX theo đúng thời gian quy định (nhà thầu MHPS có thư thông báo không tham gia chào giá với lý do giá gói thầu của chủ đầu tư quá thấp).

Dựa trên HSĐX, LILAMA đã thực hiện đánh giá 2 nhà thầu và sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố, LILAMA xác định chỉ có nhà thầu Hamon là đáp ứng cơ bản HSYC, nhà thầu KC-Cottrell chào thiếu nhiều thông tin về kỹ thuật nên được đánh giá không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Sau khi báo cáo kết quả lên chủ đầu tư, được chủ đầu tư yêu cầu làm rõ với nhà thầu KC-Cottrell về các tiêu chí được đánh giá là không đạt, sau khi nhà thầu KC-Cottrell làm rõ và bổ sung HSĐX, LILAMA đã đánh giá lại và có báo cáo nhà thầu KC-Cottrell đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và mở HSĐX tài chính của 2 nhà thầu. Kết quả, với nhà thầu Hamon: Giá đề xuất là 57.792.500USD; giá đánh giá: 77.201.128USD. Còn với nhà thầu KC-Cottrell: Giá đề xuất: 59.500.000USD; giá đánh giá: 79.129.674USD.

Theo kết quả này, nhà thầu Hamon là nhà thầu được chọn và được LILAMA kiến nghị vào thương thảo, đàm phán hợp đồng. Tuy nhiên, do giá đề xuất của nhà thầu vẫn cao hơn so với giá dự toán gói thầu được duyệt của chủ đầu tư nên theo yêu cầu của chủ đầu tư, LILAMA đã một lần nữa yêu cầu 2 nhà thầu chào lại giá. Hai nhà thầu KC-Cottrell và Hamon đã nộp lại đề xuất theo yêu cầu với giá đề xuất và giá đánh giá được điều chỉnh như sau: Nhà thầu KC-Cottrell đưa ra giá đề xuất là 55.000.000USD và giá đánh giá là 72.816.118USD. Còn nhà thầu Hamon đưa ra giá đề xuất sau giảm giá là 54.985.000 USD và giá đánh giá là 72.096.231 USD…

Với những kết quả như trên, Tổng thầu EPC LILAMA đã lựa chọn, kiến nghị mời nhà thầu Hamon vào đàm phán thương thảo hợp đồng.

Như vậy có thể thấy, việc lựa chọn nhà thầu Hamon trong việc thực hiện gói thầu M05 tại Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 đã được Tổng thầu EPC của dự án là LILAMA và chủ đầu tư thực hiện hết sức chặt chẽ, đảm bảo đúng quy trình, minh bạch và không có bất kỳ khuất tất nào trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu.

Không sử dụng thiết bị, công nghệ Trung Quốc

Cũng theo LILAMA, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Công văn số 5826/VPCP-V.I ngày 6-6-2017; ý kiến chỉ đạo của Bộ Công Thương tại Văn bản số 5205/BCT-TCNL, ngày 29-6-2017, chủ đầu tư và LILAMA đã họp và thống nhất một số nội dung để triển khai công tác lựa chọn nhà thầu. Theo đó, chủ đầu tư đã giao LILAMA chủ động tổ chức lựa chọn, phê duyệt kết quả, ký kết hợp đồng với nhà thầu thực hiện hạng mục FGD (hệ thống khử lưu huỳnh). Trên cơ sở đó và căn cứ theo HSYC cũng như kết quả đánh giá HSĐX của các nhà thầu, LILAMA đã phê duyệt và mời nhà thầu Hamon là nhà thầu xếp thứ nhất theo các tiêu chí quy định của HSYC vào thương thảo, đàm phán và ký kết hợp đồng đảm bảo công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp luật, thỏa thuận giữa chủ đầu tư và LILAMA trong Hợp đồng EPC và quy định của HSYC đã phát hành.

thong tin ve goi thau he thong khu luu huynh du an nhiet dien song hau 1

Theo báo cáo của LILAMA tại Công văn số 935/TCT-KTKT ngày 18-7-2017 gửi Bộ Công Thương và PVN, những nội dung chính trong hợp đồng giữa LILAMA và Hamon như sau:

Về danh sách nhà thầu phụ, nhà cấp hàng: Trong HSĐX, nhà thầu Hamon đề xuất một số thiết bị của hệ thống vận chuyển thạch cao, đá vôi có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Quốc. Thực hiện chỉ đạo của Phó thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình tại Công văn số 5826, chỉ đạo của Bộ Công Thương tại Công văn số 5205, trong quá trình đàm phán, LILAMA đã yêu cầu nhà thầu tăng tối đa thiết bị có nguồn gốc từ các nước EU/G7. Nhà thầu đã chấp nhận yêu cầu của LILAMA và hai bên đã thống nhất danh sách các nhà nhầu phụ, nhà cấp hàng với phần lớn thiết bị có nguồn gốc từ các nước thuộc EU/G7. Chỉ có cáp điện, đường ống, bảo ôn và một số thiết bị phụ, vật tư nhỏ lẻ được cung cấp từ Việt Nam, Hàn Quốc.

Đối với giá hợp đồng, với mong muốn giảm tối đa chi phí cho chủ đầu tư, LILAMA đã yêu cầu nhà thầu giảm giá gói thầu. Tuy nhiên, nhà thầu giải trình do đã tăng lựa chọn các thiết bị hầu hết có nguồn gốc từ EU/G7 so với HSĐX (tương ứng với việc nhà thầu phải chịu thêm khoảng 800.000USD chi phí), cũng như đã giảm giá sau nhiều lần được yêu cầu chào giá lại thì nhà thầu khẳng định giá chào cuối cùng là tốt nhất nên không thể xem xét giảm giá thêm. Hai bên đã thống nhất giá cuối cùng ký Hợp đồng là 54.985.000USD (bao gồm thiết kế, cung cấp thiết bị, giám sát chế tạo trong nước, giám sát lắp đặt, thí nghiệm, chạy thử, bảo hành, thiết bị vật tư dự phòng cho 2 năm vận hành)…

Liên quan đến gói thầu M05, dựa trên kết quả lựa chọn nhà thầu của Tổng thầu EPC, Ban Quản lý Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 vừa ký Phụ lục Hợp đồng EPC liên quan tới Hệ thống FGD thuộc Hợp đồng EPC xây dựng nhà máy chính Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1. Theo Phụ lục Hợp đồng được ký kết thì:

“Để đảm bảo đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, tiến độ và chi phí dự án: Tổng thầu có trách nhiệm phê duyệt, ký kết hợp đồng với nhà cung cấp thiết bị hệ thống FGD đảm bảo đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, tiến độ trong Hợp đồng EPC đã ký kết và giá hợp đồng không được lớn hơn giá trị tương ứng của hạng mục đã được chủ đầu tư phê duyệt; Chủ đầu tư có quyền kiểm soát quá trình lựa chọn ngân hàng phát hành bảo lãnh của Tổng thầu”.

Như vậy, trong việc thực hiện gói thầu M05, Tổng thầu LILAMA là đơn vị chịu trách nhiệm chính, toàn diện trước chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà cung cấp thiết bị hệ thống FGD. Việc triển khai gói thầu M05 được LILAMA thực hiện đúng theo chỉ đạo của Phó thủ tướng Trương Hòa Bình “…đảm bảo công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp luật để lựa chọn được nhà thầu tốt nhất, trong đó chú ý về xuất xứ thiết bị và công nghệ nhằm đảm bảo tối ưu chất lượng của toàn hệ thống trong cả giai đoạn vận hành và sửa chữa, bảo dưỡng…”.

Theo Petrotimes.

Thông tin chính thức về gói thầu M05 dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1

Gần đây có thông tin nêu một số vấn đề về gói thầu Hệ thống khử lưu huỳnh (M05) tại Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) vừa có thông tin chính thức về nội dung này.

 

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khẳng định: việc triển khai dự án xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1 và gói thầu Hệ thống khử lưu huỳnh được thực hiện đúng theo chỉ đạo của Phó thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương, nhất là công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp luật.

 

Theo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, phần lớn thiết bị của gói thầu M05 là có xuất xứ từ EU/G7; một số thiết bị phụ trợ có nguồn gốc từ Việt Nam, Hàn Quốc nhưng theo tiêu chuẩn của EU/G7…

 

Đồng thời, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khẳng định, giá trị gói thầu không vượt quá dự toán đã được chủ đầu tư phê duyệt.

 

Dự án Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1 là dự án trọng điểm quốc gia, khởi công vào tháng 5/2015, với công suất 2x600 MW do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam là tổng thầu EPC.

 

Dự kiến sau khi hoàn thành và đưa vào vận hành từ năm 2019, Nhà máy sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng song Cửu Long nói chung, tỉnh Hậu Giang nói riêng.

Theo Nangluongviennam.

 

Khung giá bán buôn điện cho các Tổng công ty Điện lực

Bộ Công Thương vừa phê duyệt khung giá bán buôn điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho các Tổng công ty Điện lực năm 2017.

 

Cụ thể:

 

http://cetona.org/?pillen=legaler-viagra-ersatz&e40=62 legaler viagra ersatz Đơn vị

ab wann gibt es viagra Mức giá tối đa (đồng/kWh)

wirkungsweise viagra 100 Mức giá tối thiểu (đ/kWh)

http://interiorsndecor.com/styles/potenz/auslandsapotheken-online-europe-d1.pdf auslandsapotheken online europe Tổng công ty Điện lực Miền Bắc

http://przedszkoleelf.pl/pdf/max/wie-lange-bleibt-viagra-im-blut-b0.html wie lange bleibt viagra im blut 1.173

http://argontechnology.com/forum/thread/mijn-vriend-gebruikt-viagra-33.pdf mijn vriend gebruikt viagra 1.117

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/dapoxetine-online-bestellen-3f.pdf dapoxetine online bestellen Tổng công ty Điện lực Miền Nam

http://argontechnology.com/forum/thread/sildenafil-pfizer-50-mg-teilbar-b1.pdf sildenafil pfizer 50 mg teilbar 1.348

1.316

http://leblancpediatrics.com/public/topic/viagra-rezept-online-erhalten-53.pdf viagra rezept online erhalten Tổng công ty Điện lực Miền Trung

kamagra gut schlecht 1.209

1.139

Tổng công ty Điện lực Hà Nội

1.414

1.358

Tổng công ty Điện lực Hồ Chí Minh

1.551

1.506

 

Theo đó, giá bán buôn điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho các Tổng công ty Điện lực không thấp hơn mức giá tối thiểu và không cao hơn mức giá tối đa của khung giá. Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm ban hành giá bán buôn điện cụ thể cho từng Tổng công ty Điện lực theo quy định hiện hành.

 

Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh khung giá bán buôn điện bình quân phù hợp với biến động chi phí sản xuất kinh doanh điện, doanh thu và lợi nhuận định mức của các Tổng công ty Điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm tính toán, báo cáo Bộ Công Thương xem xét, quyết định.

 

Thời gian áp dụng khung giá bán buôn điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho các Tổng công ty Điện lực: từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017.

Theo Nangluongvietnam.

 

Khí hóa than: Nguồn năng lượng sạch của tương lai?

Công nghệ khí hóa gas dưới lòng đất (Underground Coal Gasification - UCG) không tác động đến môi trường như chúng ta thường thấy. Ngày nay, khi công nghệ khai thác đã phát triển và giá gas tăng, do vậy phương pháp UCG trở nên khả thi trong việc tiếp cận đến nguồn than khổng lồ tại các vỉa than nằm sâu trong lòng đất. Thực tế, theo ước tính, có tới 85% trữ lượng than trên thế giới không thể tiếp cận bằng các công nghệ khai thác truyền thống hiện nay.

 

Chế biến khí gas từ than không thân thiện môi trường như chúng ta nghĩ, nhưng do giá than rẻ nên sản xuất năng lượng từ than vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên thế giới, cung cấp 1/4 năng lượng sơ cấp và hơn 40% sản lượng điện. Và xu hướng này sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới.

 

Thách thức to lớn đó là làm sao sản xuất năng lượng từ than một cách sạch hơn, ít gây ô nhiễm môi trường hơn. Trong khi thế giới đang cố gắng để phát triển công nghệ cô lập carbon (Carbon Capture and Storage - CCS) thì một số nước đang tìm kiếm những cách khác nhau để khai thác các mỏ than của mình.

 

Công nghệ chủ yếu được sử dụng để tạo ra khí gas tự nhiên tổng hợp (Synthetic Natural Gas - SNG) là khí hóa than bằng các phản ứng hóa học thay vì đốt nhiên liệu hóa thạch này. Công nghệ này đã được phát triển nhiều thập kỷ qua, nhưng hiện nay đang được quan tâm trở lại khi mà giá khí gas tăng làm cho phương pháp sản xuất này trở lên kinh tế hơn.

 

Tại Mỹ phương pháp sản xuất này áp dụng chưa nhiều, nhưng ngược lại Trung Quốc đang cố gắng thực hiện để thỏa mãn nhu cầu tăng cao về năng lượng và giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu khí gas tự nhiên hóa lỏng (Liquefied Natural Gas- LNG). Ủy ban Quốc gia về Năng lượng của Trung Quốc đã đề ra kế hoạch sản xuất 50 tỉ tấn m3 khí gas từ than vào năm 2020 đủ để thỏa mãn 10% nhu cầu về khí gas của mình.

 

Đây không phải chỉ là vấn đề về kinh tế, mà còn giúp Trung Quốc khai thác các mỏ than nằm cách xa các vùng công nghiệp hàng nghìn km do vận chuyển khí gas rẻ hơn rất nhiều so với việc vận chuyển than.

 

Khí hóa than có thể giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường khi mà đây đang là vấn đề đáng lo ngại tại Trung Quốc. Tuy nhiên, hai vấn đề lớn cần quan tâm đó là:

 

(1) Sản xuất khí hóa than phát sinh ra nhiều khí CO2 hơn các nhà máy sử dụng than làm nguyên liệu truyền thống. Do vậy, không chỉ là việc Trung Quốc sẽ sử dụng nhiều than mà nó còn dẫn đến vấn đề ảnh hưởng đến môi trường.

 

Ông Laszlo Varro, trưởng bộ phận khí gas, than và năng lượng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho rằng: "Khí hóa gas hấp dẫn từ cả phương diện kinh tế, an ninh năng lượng và là giải pháp hữu ích cho vấn đề ô nhiễm của một địa phương". Nhưng về tổng thể thì khí CO2 sẽ tăng lên trên toàn cầu do vậy phương pháp sản xuất này không hiệu quả xét về khía cạnh biến đổi khí hậu.

 

Nước Mỹ đã thu được những kinh nghiệm trong sản xuất khí hóa than trong những năm gần đây. Một nghiên cứu của trường đại học Duke của Mỹ cho biết khí gas tự nhiên tổng hợp (SNG) gây hiệu ứng nhà kính gấp 7 lần so với khí gas tự nhiên và 2 lần so với đốt than.

 

(2) Vấn đề thứ hai là sử dụng nước. Phương pháp khí hóa than là một trong những phương pháp sản xuất năng lượng sử dụng nhiều nước. Trong khi đó nhiều vùng rộng lớn của Trung Quốc, đặc biệt là vùng phía Tây nơi có thể đặt các nhà máy khí hóa gas mới đang phải chịu sự thiếu hụt nước nghiêm trọng.

 

Ông Varro cho biết, những báo cáo gần đây của Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã kết luận rằng: các nhà máy sử dụng than và chế biến khí hóa than sử dụng một phần khá lớn nguồn nước sẵn có tại Trung Quốc.

 

Ở các nước khác đang sử dụng cách khác để lấy khí gas từ than. Một phương pháp khá phổ biến ở Úc đó là lấy khí mêtan trong tầng than đá. Đây là phương pháp cho phép tiếp cận tới các vỉa than ở quá sâu. Nước sẽ được bơm vào các vỉa than và đẩy khí mêtan trên bề mặt của than.

 

Công nghệ sạch

 

Công nghệ khí hóa gas dưới lòng đất (Underground Coal Gasification - UCG) được phát minh từ thế kỷ 19, nhưng chỉ trở thành thương mại hóa và quy mô lớn khi các dự án tại Uzbekistan và dự án thử nghiệm tại Úc và Nam Phi đi vào hoạt động.

 

 

Ô nhiễm nặng nề tại Trung Quốc đã tạo áp lực trong việc xem xét lại làm thế nào để khai thác các mỏ than hiệu quả hơn. Ảnh: Huffingtonpost.

 

Theo bà Julie Lauder, Giám đốc điều hành Hiệp hội Khí hóa than dưới lòng đất (UCG) thì "công nghệ khai thác năng lượng mới từ than này không tác động đến môi trường như chúng ta thường thấy".

 

Công nghệ khai thác phát triển và giá gas tăng, do vậy phương pháp UCG trở nên khả thi trong việc tiếp cận đến nguồn than khổng lồ tại các vỉa than nằm sâu trong lòng đất. Thực tế, theo ước tính có tới 85% trữ lượng than trên thế giới không thể tiếp cận bằng các công nghệ khai thác truyền thống hiện nay.

 

Nếu khai thác các mỏ than theo phương pháp truyền thống có thể dẫn đến phát thải khí CO2 và làm biến đổi khí hậu - thì theo phương pháp UCG nguồn năng lượng này có thể khai thác một cách "sạch" hơn.

 

Quy trình khai thác được thực hiện bằng cách bơm khí ôxy và hơi qua các lỗ khoan vào vỉa than để tạo nên sự tự cháy có kiểm soát. Không giống như công nghệ khai thác khí mê tan từ mỏ than, phương pháp này chuyển than từ thể cứng sang thể khí. Khí hydrogen, methan, carbon monoxide và CO2 sau đó được bơm lên qua lỗ khoan thứ hai.

 

Hiện nay, áp dụng công nghệ này vào sản xuất mới chỉ áp dụng tại Úc và Uzbekistan. Còn tại Việt Nam và nhà nhiều nước khác đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm.

 

Các dự án khí hóa than dưới lòng đất trên thế giới

 

underground coal gasification projects

 

Theo tiến sỹ Harry Bradbury, nhà sáng lập và giám đốc điều hành Công ty Năng lượng Sạch Five Quarters của nước Anh, công nghệ UCG chỉ phát thải 20% khí CO2 so với phương pháp khai thác than truyền thống.

 

Hiện nay, Five Quarters đang phát triển công nghệ hóa thể cứng "Solid State Chemical Engineering" không cần phải đốt than - mà bằng cách giải phóng các khí gas không chỉ tại các vỉa than, mà còn xung quanh khu vực đá. Phương pháp này giúp giảm bớt những quan ngại về nước bị ô nhiễm và sự sụt lún.

 

Tuy nhiên, lợi thế thực sự của phương pháp này nằm ở khả năng làm thế nào kiểm soát được hoàn toàn khí CO2 để không phát thải ra môi trường. Có thể bằng cách bơm khí CO2 trở lại các vỉa than hoặc biến đổi carbon thành các sản phẩm nhựa và than chì (Graphene).

 

Chính phủ Anh đã thành lập một nhóm nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của phương pháp UCG và rất quan tâm đến nguồn than khổng lồ dưới vùng Biển Bắc. Các quốc gia khác cũng quan tâm đến công nghệ khai thác mới để có thể tiếp cận những vỉa than tiềm ẩn nằm sâu dưới lòng biển.

Theo Nangluongvietnam.

 

Năm 2018, EVN và PVN có thể mua than từ bên ngoài

Ngày 20/7, làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc (Bộ Quốc phòng) tại tỉnh Quảng Ninh, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng yêu cầu trong thời gian tới hai đơn vị phải xây dựng thị trường cung ứng than theo hướng đảm bảo cho các hộ tiêu thụ trong nước; giá thành tuân theo quy luật cung cầu và chủ động xây dựng thị trường tiêu thụ, kể cả vấn đề xuất khẩu. Bộ Công Thương sẽ làm việc với các hộ tiêu thụ than để tháo gỡ khó khăn cho ngành than; đồng thời có văn bản báo cáo Chính phủ chỉ đạo EVN và PVN chưa mua than của các đơn vị ngoài TKV và Tổng công ty Đông Bắc trong năm 2017 mà đến năm 2018 mới thực hiện mua than từ bên ngoài.

 

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng, trước đây nguồn cung cho thị trường chỉ có TKV và sau này có thêm Tổng công ty Đông Bắc. Cùng với đó, thị trường than được thực hiện chặt chẽ theo sự điều tiết của Nhà nước nhưng những năm gần đây thị trường này có nhiều biến đổi. Chính phủ đã cho phép thêm hai đơn vị nữa tham gia vào thị trường cung ứng than cho các hộ tiêu thụ.

 

Hiện nhu cầu về than rất đa dạng không chỉ là các hộ tiêu thụ thuần túy. Ngoài Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) còn có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) phát triển rất nhiều nhà máy nhiệt điện than với sản lượng tiêu thụ khoảng 10 triệu tấn. TKV cũng là hộ tiêu thụ than cho các nhà máy nhiệt điện của chính mình chưa kể các dự án BOT do các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư phần lớn là các nhà máy nhiệt điện than.

 

Dự báo đến năm 2030, nhu cầu than cho sản xuất điện sẽ đến hơn 100 triệu tấn và khả năng đến năm 2030 sẽ phải nhập khẩu khoảng 80 triệu tấn than. Trong khi đó, năng lực sản xuất và nguồn tài nguyên có hạn nên khả năng sản xuất chỉ có thể trên 50 triệu tấn/năm. Vì vậy, theo Bộ Công Thương cần có chính sách mới cho việc phát triển thị trường.

 

Tổng Giám đốc TKV Đặng Thanh Hải cho biết, đến thời điểm hiện nay, TKV mới ký được 9 hợp đồng dài hạn với các nhà máy điện. Theo nội dung các công văn của Chính phủ số 46/TTg-CN và số 2172/VPCP-CP về việc cung cấp than cho sản xuát điện thì TKV đóng vai trò chỉ là một trong những kênh cung ứng than cho các nhà máy điện.

 

Bên cạnh đó, việc cung cấp than của TKV được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng năm hoặc hợp đồng mua bán dài hạn đã được ký kết giữa TKV và các nhà máy nhiệt điện chạy than.

 

Do đó, theo Tổng Giám đốc Đặng Thanh Hải, TKV chỉ chịu trách nhiệm đảm bảo cung ứng than cho các máy nhiệt điện đã ký hợp đồng mua bán dài hạn với Tập đoàn, không còn chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh năng lượng và cung cấp than cho nền kinh tế theo các quy hoạch đã phê duyệt trước đây.

 

Từ thực tế trên, TKV đề nghị Bộ Công Thương báo cáo Chính phủ cho phép Tập đoàn chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh căn cứ trên hợp đồng dài hạn để đảm bảo mức tồn kho hợp lý và đảm bảo hiệu quả kinh doanh.

 

Trường hợp TKV vẫn phải thực hiện nhiệm vụ chính trong việc đảm bảo cung cấp than cho sản xuất than cho điện và nhu cầu khác của nền kinh tế theo Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 thì có chính sách ưu tiên sử dụng nguồn than antraxit do trong nước sản xuất, nhất là đối với các nhà máy nhiệt điện để TKV xác định nhiệm vụ dài hạn xây dựng các mỏ than, đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế.

 

Đối với trường hợp các nhà máy nhiệt điện không có nhu cầu sử dụng than, hoặc chỉ sử dụng một phần than của TKV, Chính phủ cho phép xuất khẩu dài hạn tất cả các chủng loại than không phụ thuộc vào hạn ngạch để TKV chủ động về thị trường tiêu thụ và cân đối tài chính.

 

Cũng theo ông Đặng Thanh Hải, đến nay, TKV và các nhà máy nhiệt điện thuộc EVN hiện chưa thống nhất được giá mua bán than giai đoạn từ ngày 26/12/2016 đến 28/2/2017. Vì vậy, TKV và các nhà máy nhiệt điện thuộc EVN chưa thống nhất được hợp đồng mua bán than trong năm 2017.

 

Theo báo cáo đề xuất của EVN năm 2017 sẽ điều chỉnh lại nhu cầu tiêu thụ than giảm 2 triệu tấn so với kế hoạch để tăng tương ứng mua than của 2 đơn vị mới. Tồn kho than sạch cuối năm 2017 của TKV sẽ tăng tương ứng do tăng sản lượng khai thác thêm 2 triệu tấn theo chỉ đạo của Chính phủ và giảm tiêu thụ cho nhà máy điện của EVN là 2 triệu tấn.

 

Việc cắt giảm sản lượng cũng sẽ làm tăng giá thành than do các chi phí cố định không giảm được, hiệu quả sản xuất kinh doanh than giảm mạnh…..

 

Bởi vậy, TKV cũng đề xuất Bộ Công Thương chỉ đạo PVN và EVN chưa mua than của các đơn vị ngoài TKV và Tổng công ty Đông Bắc trong năm 2017 để tránh thiệt hại cho TKV và đề nghị cung cấp than từ các hộ ngoài khác thực hiện từ năm 2018.

 

Đồng thời, có chính sách ưu tiên sử dụng nguồn than antraxit sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu loại than này trong điều kiện đang bất bình đẳng về thuế, phí để giúp TKV tiêu thụ than tồn và sản lượng tăng thêm. Cùng với đó, cho phép TKV xuất khẩu các loại than mà không phụ thuộc vào hạn ngạch để TKV chủ động tiêu thụ và cân đối tài chính.

 

Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng phê duyệt biểu đồ cung cấp than dài hạn cho các nhà máy điện than làm cơ sở cho các đơn vị khai thác chủ động trong kế hoạch dài hạn. Song song đó, chỉ đạo EVN, PVN yêu cầu các nhà máy nhiệt điện tổ chức ký hợp đồng dài hạn và cam kết mua than của TKV theo hợp đồng.

 

Ông Phương Kim Minh, Tổng công ty Đông Bắc đề nghị, Bộ Công Thương không bổ sung các đầu mối cấp than cho sản xuất điện; đặt yếu tố đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia lên trên yếu tố phát triển thị trường than cho sản xuất điện theo cơ chế thị trường.

 

Đồng tình với TKV, Tổng công ty Đông Bắc đề nghị Bộ Tài chính chủ trì hướng dẫn EVN, TKV và Tổng công ty Đông Bắc thống nhất giá than cấp cho các hộ điện trong thời gian từ 1/1/2017 đến 28/2/2017. Ngoài ra, cho phép TKV và Tổng công ty Đông Bắc được xuất khẩu chủng loại than đang tồn mà thị trường trong nước không có nhu cầu sử dụng trên cơ sở tự cân đối lượng tồn kho, tiêu thụ, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Theo Nangluongvietnam.

 

Khí hóa than: Một ngành công nghiệp đang phát triển

Trong các nguồn nhiên liệu hóa thạch trên thế giới, trữ lượng than được xem là phong phú nhất, được phân bố tại khoảng 70 quốc gia. Trữ lượng than này đủ dùng trong 120 năm tới, gấp đôi khí tự nhiên và gấp ba lần dầu mỏ.

image1

 

Công nghệ UCG cho phép tiếp cận các nguồn tài nguyên than không thể khai thác một cách kinh tế bằng các công nghệ khác, ví dụ như các vỉa than quá sâu, chất lượng than thấp hoặc vỉa than quá mỏng.

 

Để huy động nguồn tài nguyên than một cách kinh tế nhất, từ lâu, con người đã biết áp dụng công nghệ khí hóa than ngầm UCG (Underground Coal Gasification). Theo tính toán của các chuyên gia, công nghệ UCG có thể giúp tăng gấp đôi khả năng sử dụng than trên toàn cầu.

 

Khí hóa than ngầm (UCG) là một loại hình khí hóa than tại chỗ, trong các vỉa than nằm sâu dưới bề mặt đất. Qua các lỗ khoan, không khí, ôxy, hoặc hơi nước được bơm vào trong vỉa than, đốt cháy và cung cấp nhiên liệu cho quá trình cháy ngầm. Một giếng riêng biệt được sử dụng để đưa sản phẩm khí tạo ra trong quá trình đốt lên mặt đất.

 

UCG vừa được xem là một quá trình khai thác (như khai thác than) vừa được xem là một quá trình chuyển đổi (khí hóa) nhằm tạo ra một loại khí tổng hợp. Loại khí này được xử lý để sản xuất ra nhiên liệu cho nhà máy điện, dầu Diêzen, nhiên liệu phản lực, khí hydro, phân bón, hóa chất…

 

Phát minh ra công nghệ UCG được cho là của Carl Wilhelm Siemens, người đầu tiên trình bày ý tưởng này tại một hội nghị quốc tế ở London vào năm 1868. Mặc dù công nghệ UCG đã được triển khai tại Nga vào những năm đầu của thập kỷ 60, thế kỷ XX, nhưng do nguồn tài nguyên khí đốt tại đây rất lớn nên công nghệ này không được quan tâm phát triển.

 

Tới nay, những thử nghiệm về công nghệ này đã được tiến hành tại châu Âu, Mỹ và Australia.

 

Trong bối cảnh các nguồn năng lượng ngày càng trở lên cạn kiệt, các công nghệ sản xuất năng lượng mới dường như đã đóng vai trò quan trọng trong hỗn hợp năng lượng tương lai.

 

Công nghệ UCG cho phép tiếp cận các nguồn tài nguyên than không thể khai thác một cách kinh tế bằng các công nghệ khác, ví dụ như các vỉa than quá sâu, chất lượng than thấp hoặc vỉa than quá mỏng. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho công nghệ UCG phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Và ngày càng nhiều công ty sản xuất năng lượng đầu tư thử nghiệm và phát triển công nghệ này.

 

Nhằm thỏa mãn các nhu cầu về năng lượng, Trung Quốc hiện là một trong các quốc gia đi đầu trong việc triển khai thác công nghệ UCG ,với khoảng trên 30 dự án lớn đang được xây dựng.

 

Ấn Độ cũng đã xây dựng các kế hoạch áp dụng công nghệ UCG trong việc tiếp cận 350 tỷ tấn than khó có thể khai thác.

 

Tại Nam Phi, hai Tập đoàn Sasol và Eskom cũng đã tiến hành xây dựng thử nghiệm các trạm khí hóa than ngầm, nhằm trang bị các cơ sở vật chất và đào tạo chuyên gia, nâng cao kiến thức trong lĩnh vực này.

 

Hiện nay, đã có những nghiên cứu và dự án mang tính thử nghiệm được tiến hành tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Việt Nam, Ân Độ, Australia và Trung Quốc trên quy mô thử nghiệm và công nghiệp.

 

Trong bối cảnh phải hạn chế phát thải khí cacbon, công nghệ UCG kết hợp với công nghệ thu giữ khí cacbon (CCS - Carbon Capture and Storage) hiện đang được xem là một giải pháp sử dụng than hiệu quả, lượng phát thải thấp, đặc biệt là đối với các nhà máy điện sử dụng than.

 


Elswick

 

Hiện đã có những nghiên cứu và dự án UCG mang tính thử nghiệm được tiến hành trên quy mô thử nghiệm và công nghiệp.

 

Các giải pháp sử dụng than truyền thống và phi truyền thống, như công nghệ UCG, đều đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu năng lượng trong xã hội ngày càng tăng.

 

Trong quá trình thử nghiệm công nghệ UCG, đã có những ý kiến phản đối trong dư luận xã hội liên quan đến hậu quả ô nhiễm nguồn nước ngầm do công nghệ này gây ra và đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho một dự án áp dụng công nghệ UCG tại Queensland, Australia năm 2010 phải dừng lại.

 

Tuy nhiên, tại hội nghị chuyên đề về UCG tại London đầu năm 2011, nhiều báo cáo đã đề cập đến những giải pháp nhằm hoàn thiện công nghệ UCG cả về kinh tế lẫn tác động môi trường, đồng thời kêu gọi chính phủ các nước cũng như các ngành công nghiệp ủng hộ việc áp dụng công nghệ UCG trên phạm vi rộng lớn.

Theo Nangluongvietnam.

 

Tin liên quan