Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

TKV hướng tới mục tiêu sản xuất xanh

Khai thác khoáng sản là ngành sản xuất tác động lớn đến môi trường. Do vậy, từ khi thành lập đến nay, cùng với việc đầu tư phát triển sản xuất, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) luôn quan tâm đầu tư, triển khai đồng bộ, tổng thể nhiều giải pháp bảo vệ môi trường.

 

Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường

 

Để có nguồn vốn thực hiện các dự án, công trình môi trường, TKV đã lập Quỹ Môi trường tập trung bằng 1,0 - 1,5% chi phí sản xuất, đồng thời cho phép các đơn vị thành viên trực tiếp chi 0,5% chi phí sản xuất cho bảo vệ môi trường thường xuyên. Tổng chi phí trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường của TKV hiện nay trên 1.000 tỷ đồng/năm, chưa kể chi phí đầu tư đổi mới công nghệ kết hợp bảo vệ môi trường.

 

TKV đã ban hành các cơ chế nội bộ, tổ chức hệ thống chỉ đạo, quản lý công tác bảo vệ môi trường chuyên trách thống nhất từ Tập đoàn đến các đơn vị thành viên; thành lập các đơn vị tư vấn, thi công chuyên ngành môi trường làm lực lượng nòng cốt thực hiện công tác bảo vệ môi trường của Tập đoàn; thường xuyên mở các lớp tập huấn về môi trường cho cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác môi trường; hợp tác với nước ngoài (Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản) nghiên cứu công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực bảo vệ môi trường.

 

 

Mặc dù có nhiều khó khăn về nguồn vốn, tuy nhiên, TKV đã chủ động quy hoạch, sắp xếp lại các công trình sản xuất, đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng di dời, tháo dỡ các nhà máy (cơ khí Hòn Gai, cơ khí Cẩm Phả, tuyển than Hòn Gai), kho tàng (kho than, kho vật tư tại thành phố Hạ Long), bến cảng (Hòn Gai, Cột 5, các cảng lẻ ven bờ từ Mạo Khê đến Cẩm Phả), đường sắt (Hà Lầm - Hòn Gai, Cột 8 - Hòn Gai, Khe Sim - Ga cầu 4...) tạo điều kiện mở rộng và phát triển các đô thị, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường, cảnh quan các đô thị và khu dân cư.

 

Chú trọng công tác cải tạo phục hồi môi trường các bãi thải, đến hết năm 2016, TKV đã cải tạo phục hồi môi trường được trên 900 ha bãi thải (Nam Đèo Nai, Nam Lộ Phong - Hà Tu, Vỉa 7-8 Hà Tu, Chính Bắc Núi Béo, Ngã Hai Quang Hanh...). Từ đó, tiếp tục cải tạo phục hồi môi trường các khu vực khác nhằm cải thiện môi trường, cảnh quan chung, nhất là các khu vực nhìn được từ quốc lộ 18A, 18B. Đối với các bãi thải đang hoạt động, thực hiện đổ thải tầng thấp theo đúng thiết kế để ngăn ngừa nguy cơ sạt lở bãi thải, giảm phát sinh bụi, giảm chi phí cải tạo phục hồi môi trường sau này.

 

Với việc ngăn ngừa đất đá trôi lấp, nạo vét sông suối thoát nước, TKV đã xây dựng 15 đập ngăn đất đá chân các bãi thải để chống trôi lấp đất đá, đảm bảo an toàn cho dân cư và môi trường (đập Khe Rè, Lao Cáp, suối 9.8, suối H10, Vũ Môn bãi thải Đông Cao Sơn; đập Cái Đá, Giáp Khẩu bãi thải Chính Bắc Núi Béo; đập số 1, 2 bãi thải Vỉa 7 - 8 Hà Tu; đập số 1, 2 bãi thải Ngã Hai Quang Hanh...); đang tiếp tục xây dựng các đập chắn đất đá khác theo sự phát triển của các bãi thải. Bên cạnh đó, Tập đoàn thường xuyên cải tạo, nạo vét hệ thống sông suối thoát nước ngăn ngừa đất đá tràn lấp, gây ngập lụt các khu dân cư và vùng hạ lưu.

 

Đến hết năm 2016, 50 trạm xử lý nước thải mỏ và khoáng sản đã hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành, công suất xử lý trên 100 triệu m3/năm. Cơ bản nước thải mỏ được thu gom, xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, được tái sử dụng tối đa cho sản xuất, sinh hoạt. Các nhà máy tuyển than và khoáng sản, luyện kim, nhiệt điện, xi măng được đầu tư dây chuyền xử lý nước thải đồng bộ cùng dây chuyền công nghệ, cơ bản sử dụng tuần hoàn trong nhà máy không thải ra môi trường.

 

Song song đó, TKV đã đầu tư xây dựng nhà máy xử lý chất thải nguy hại công nghiệp tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh với công suất 3000 tấn/năm, chất thải nguy hại phát sinh trong sản xuất của các đơn vị tại Quảng Ninh hiện được thu gom, xử lý tập trung đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, được thu hồi tối đa phục vụ cho sản xuất và cung cấp cho các ngành khác. Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đơn vị hiện được thu gom và thuê các công ty vệ sinh môi trường tại địa phương xử lý. Chất thải rắn sản xuất thông thường được thu gom, đổ thải đúng quy hoạch, thiết kế.

 

Các đơn vị trong Tập đoàn đã đầu tư trên 90 hệ thống phun sương dập bụi, lắp đặt lưới chắn bụi, kiên cố hóa các khu vực sàng tuyển, kho bãi; xây dựng 2 trạm rửa xe ô tô (Núi Béo, Cọc Sáu), 3 trạm rửa toa xe (Tuyển than Cửa Ông, Tuyển than Nam Cầu Trắng); thực hiện tưới nước chống bụi, phủ bạt trên các phương tiện vận chuyển và kho đống, hạn chế phát sinh bụi, ồn, góp phần cải thiện môi trường cảnh quan. Các nhà máy chế biến khoáng sản, nhiệt điện, xi măng được đầu tư dây chuyền xử lý khí thải đồng bộ cùng dây chuyền công nghệ, được kiểm soát tự động, đảm bảo tiêu chuẩn khí thải trước khi xả ra môi trường.

 

Đổi mới công nghệ

 

Những năm vừa qua, TKV đã đẩy mạnh áp dụng công nghệ khai thác cơ giới hoá, thủy lực hóa trong khai thác các mỏ than hầm lò, nhờ đó giảm suất tiêu hao gỗ chống lò từ 45 - 50 m3/1000 tấn than xuống 14,1 m3/1000 tấn; giảm tỷ lệ tổn thất tài nguyên từ 45 - 50% xuống 24,2%; đầu tư đổi mới thiết bị khai thác lộ thiên hiện đại, công suất lớn (máy xúc dung tích 10 m3, ô tô trọng tải 100 tấn, ô tô chạy điện, băng tải đá...) tăng năng suất, tiết kiệm nhiên liệu, hạn chế khí thải, giảm tỷ lệ tổn thất tài nguyên từ 15 - 18% xuống 5,3%; đầu tư thiết bị lọc ép bùn công suất lớn nhà máy tuyển tăng tỷ lệ thu hồi khoáng sản, sử dụng nước tuần hoàn, giảm xả thải ra môi trường; đầu tư băng tải thay thế ô tô vận chuyển than ra cảng, hạn chế phát sinh bụi, ồn, khí thải. Đầu tư hệ thống khởi động mềm cho các thiết bị để tiết kiệm điện; tận thu các loại than và khoáng sản chất lượng thấp, đầu tư các trạm tuyển nâng cấp chất lượng, xây dựng các nhà máy điện sử dụng than chất lượng thấp để tận dụng và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên.

 

Để giảm thiểu bụi, ồn ảnh hưởng đến môi trường, dân cư, TKV đã đầu tư xây dựng các tuyến đường vận chuyển chuyên dụng có tổng chiều dài trên 130 km. Vì vậy, từ năm 2008, toàn Tập đoàn đã chấm dứt vận chuyển than trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ; từ năm 2013 chỉ vận chuyển than ra cảng bằng ô tô vào ban ngày.

 

TKV đã đầu tư hiện đại hóa các cảng xuất than (Cửa Ông, KM6, Làng Khánh, Bến Cân...) kết hợp với đầu tư các tuyến băng tải thay thế ô tô vận chuyển than ra cảng (mặt bằng +56 Mạo Khê - cảng Bến Cân, mặt bằng +56 Mạo Khê - nhà máy điện Mạo Khê, kho G9 - nhà máy điện Mông Dương, Khe Chàm - kho G9, Lép Mỹ - cảng KM6...), việc vận chuyển than ra cảng hiện nay chủ yếu thực hiện bằng băng tải và đường sắt, nhờ đó giảm thiểu ảnh hưởng của quá trình vận chuyển than đến các đô thị và khu dân cư.

 

Với việc chủ động thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, trong những năm vừa qua, Tập đoàn đã từng bước khắc phục được ô nhiễm môi trường do quá trình khai thác khoáng sản trước đây để lại và xử lý, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường mới phát sinh, vì vậy chất lượng môi trường, cảnh quan các khu vực có hoạt động sản xuất của Tập đoàn và các khu vực dân cư, đô thị lân cận đã được cải thiện, nâng cao góp phần vào sự phát triển của Tập đoàn, hướng tới mục tiêu trở thành ngành sản xuất xanh, phát triển hài hòa, thân thiện với môi trường và cộng đồng.

Theo Nangluongvietnam.vn

 

Phê duyệt kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 của TKV

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm 2016 - 2020 của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Theo đó, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 5,5 - 6%/năm.

 

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam phải trở thành Tập đoàn kinh tế vững mạnh, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng tối ưu nguồn lực sẵn có, tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu như: công nghiệp than, công nghiệp khoáng sản, công nghiệp điện, công nghiệp cơ khí mỏ, công nghiệp hóa chất.

 

Cụ thể, về thăm dò than, với bể than Đông Bắc, đến hết năm 2020, hoàn thành công tác thăm dò đến mức -300 m và một số khu vực dưới mức -300 m đảm bảo đủ trữ lượng và tài nguyên tin cậy để huy động vào khai thác trong giai đoạn đến năm 2025. Với bể than sông Hồng, trước năm 2020 hoàn thành công tác thăm dò than khu Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình để phục vụ lập và thực hiện dự án thử nghiệm.

 

Đảm bảo khai thác than nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng than trong nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; phấn đấu đến năm 2020 sản lượng than thương phẩm đạt 42 triệu tấn; phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ tổn thất than khai thác bằng phương pháp hầm lò xuống khoảng 20%; tỷ lệ tổn thất than khai thác bằng phương pháp lộ thiên xuống khoảng 5%.

 

Nhập khẩu than các loại để phục vụ các ngành kinh tế trong nước (đặc biệt là than cho sản xuất điện), phấn đấu đến năm 2020 sản lượng than nhập khẩu đạt khoảng 8 - 9 triệu tấn.

 

Về công nghiệp khoáng sản, phấn đấu đến năm 2020, sản lượng một số loại khoáng sản chủ yếu như: Thiếc thỏi 600 tấn/năm, kẽm thỏi 15.000 tấn/năm, tinh quặng đồng 90.000 tấn/năm, đồng tấm 30.000 tấn/năm, tinh quặng sắt 4.655 ngàn tấn/năm; phôi thép 200.000 tấn/năm, vàng 1.300 kg/năm, Alumin 1.250 ngàn tấn/năm, FeroChrome 10.000 tấn/năm.

 

Về công nghiệp điện, TKV phấn đấu đến năm 2020 đưa vào vận hành các nhà máy điện (nhiệt điện than, thủy điện) với tổng công suất lắp đặt đạt 2.275 MW, tổng sản lượng đạt 10.250 triệu kWh, chiếm khoảng trên 4 - 5% tổng sản lượng điện toàn quốc.

 

Về công nghiệp hóa chất, TKV sẽ đổi mới công nghệ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để cung ứng vật liệu nổ công nghiệp, dịch vụ khoan nổ mìn đáp ứng nhu cầu cho sản xuất than, khoáng sản và nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước; sản xuất nitratamon và các sản phẩm hóa chất khác; tìm kiếm thị trường để tiến tới xuất khẩu.

 

Về công nghiệp cơ khí, sẽ nâng cao năng lực sản xuất của các nhà máy cơ khí trong Tập đoàn nhằm đáp ứng nhu cầu sửa chữa, chế tạo và cung cấp thiết bị, phụ tùng phục vụ cho sản xuất và từng bước vươn ra thị trường ngoài ngành, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, vươn lên giữ vai trò tổng thầu chế tạo, lắp đặt các nhà máy, công trình quan trọng trong và ngoài TKV.

Theo Nangluongvietnam.vn

 

Tái cơ cấu ngành điện giai đoạn 2016 - 2020

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành điện (giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025). Nội dung của Đề án tái cơ cấu lần này tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, gắn với việc tiếp tục thực hiện chuyển đổi hoạt động của ngành điện theo cơ chế thị trường, tăng cường tính công khai, minh bạch, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh trong điều kiện hội nhập quốc tế.  

 

Theo đó, giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, với khâu phát điện, thực hiện cổ phần hóa các tổng công ty phát điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) theo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Các tổng công ty phát điện tiếp tục trực thuộc các tập đoàn và do các tập đoàn nắm giữ ít nhất 51% cổ phần.

Các tổng công ty phát điện sau khi cổ phần hóa chịu trách nhiệm thực hiện các dự án đầu tư nguồn điện mới được giao theo Quy hoạch phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Các tổng công ty phát điện xây dựng và thực hiện các đề án nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, đảm bảo khả năng cạnh tranh cao, sản xuất, kinh doanh có lãi, tăng dần tỷ lệ vốn tự có cho đầu tư phát triển theo yêu cầu của các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế. Cạnh đó là khuyến khích các nhà máy sử dụng năng lượng tái tạo đáp ứng đủ điều kiện được quyền tham gia trực tiếp thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm.

Tiếp tục duy trì mô hình tổ chức của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) do EVN làm đại diện nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Về phân phối điện - bán lẻ điện, tiếp tục duy trì mô hình tổ chức của các tổng công ty điện lực theo hình thức công ty TNHH MTV do EVN làm đại diện nắm giữ 100% vốn điều lệ. Xây dựng cơ chế điều tiết giữa các tổng công ty điện lực, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của thị trường bán buôn điện cạnh tranh. Thực hiện từng bước tách bạch chi phí phân phối điện và bán lẻ điện của tổng công ty điện lực.

Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia tiếp tục thực hiện chức năng vận hành hệ thống điện và thị trường điện. Xây dựng Đề án chuyển Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia thành Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện, hạch toán độc lập trong EVN.

Đổi mới mô hình của Cục Điều tiết Điện lực (thuộc Bộ Công Thương) đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát hoạt động của thị trường bán buôn điện cạnh tranh và nâng cao hiệu quả điều tiết hoạt động điện lực.

Tiếp tục thoái phần vốn nhà nước tại các tổng công ty phát điện

Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2020, tiếp tục xem xét thoái phần vốn nhà nước tại các tổng công ty phát điện xuống dưới mức chi phối và tách các tổng công ty phát điện ra khỏi các tập đoàn (sau khi có đánh giá kết quả hoạt động sau 2 năm thực hiện cổ phần hóa, đảm bảo tuân thủ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước).

Đưa các nhà máy điện đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT (nhà máy điện BOT) tham gia thị trường bán buôn điện cạnh tranh. Cụ thể, đối với nhà máy điện đã ký hợp đồng BOT, khuyến khích tham gia thị trường bán buôn điện cạnh tranh. Đối với nhà máy điện chưa ký hợp đồng BOT, giảm công suất, sản lượng bao tiêu và tham gia thị trường bán buôn điện cạnh tranh.

 

Theo Nangluongvietnam.vn

 

 

Ngành Than thống nhất nguồn cung cho nhiệt điện

Trên cở sở dự báo nhu cầu sử dụng than của các nhà máy nhiệt điện năm 2017, ngành Than Việt Nam (bao gồm Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - TKV và Tổng công ty Đông Bắc) đã trao đổi, thống nhất cung cấp khoảng 37,08 triệu tấn than cho các nhà máy nhiệt điện năm 2017.

Cụ thể, khối lượng cung cấp than dự kiến cho các nhà máy nhiệt điện căn cứ theo dự kiến nhu cầu của các nhà máy nhiệt điện trong năm 2017 là 37,08 triệu tấn. Trong đó, dự kiến Tổng công ty Đông Bắc cấp 5,525 triệu tấn, TKV dự kiến cấp 31,555 triệu tấn.

Các chủng loại than dự kiến cấp bao gồm các loại như: cám 5q.1, 5a.3, 5a.4, 5b.1, 5b.4, 4b.1cám 6a.1, 6b.3, than không phân loại cấp 2, than trộn cám 4a.5 với 6a.6, 6a.7,6a.4 ...

Các chỉ tiêu chất lượng than được áp dụng theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành TCVN 8910:2015, tiêu chuẩn cơ sở và nhu cầu thực tế của các nhà máy nhiệt điện khi đàm phán hợp đồng mua bán than. Trong trường hợp có sự điều chỉnh về quy cách chất lượng than thực hiện theo quy định của nhà nước sẽ được điều chỉnh cho phù hợp.

TKV và Tổng công ty Đông Bắc đã thống nhất đảm bảo cung cấp than theo đúng khối lượng và chất lượng cho các nhà máy nhiệt điện trong năm 2017 góp phần đảm bảo cung cấp đủ than cho các nhà máy nhiệt điện, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ giữa hai đơn vị.

Theo dự báo, nhu cầu sử dụng than cho sản xuất và tiêu dùng của các hộ trong nước sẽ ngày càng tăng cao. Năm 2020 là trên 88 triệu tấn; năm 2025 là 133 triệu và đến 2030 là 178 triệu tấn. 

Theo nangluongvietnam.vn

Thủ tướng đồng ý cho Formosa chủ động nhập khẩu than

Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về việc cung cấp than cho sản xuất điện. Đặc biệt, Thủ tướng đã đồng ý Formosa Hà Tĩnh chủ động nhập khẩu than phục vụ riêng cho hoạt động Nhà máy nhiệt điện của Công ty.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chỉ đạo chủ đầu tư các nhà máy nhiệt điện (Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) tính toán nhu cầu than cần thiết cho sản xuất điện trong giai đoạn hiện tại và tương lai (bao gồm cả nguồn than trong nước và nhập khẩu để có kế hoạch cụ thể bảo đảm đủ nguyên liệu cho hoạt động của các nhà máy).

Bên cạnh đó, chỉ đạo TKV, Tổng công ty Đông Bắc và các doanh nghiệp khác (đã được cấp phép khai thác, sản xuất kinh doanh than) có tham gia khai thác than, rà soát, tính toán năng lực cung ứng than (kể cả sản xuất trong nước, nhập khẩu than) cho các nhà máy nhiệt điện và các hộ tiêu thụ khác để xây dựng kế hoạch cụ thể về khai thác và nhập khẩu bảo đảm cung cấp đủ và ổn định than cho các nhà máy nhiệt điện.

Đồng thời, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, TKV và các cơ quan liên quan, nghiên cứu, tính toán tiềm năng các nguồn than khác đang được nghiên cứu thăm dò khai thác (trong đó có nghiên cứu Bể than Sông Hồng…) để có các phương án, giải pháp bảo đảm than đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai.

Các đơn vị cung cấp than (TKV, Tổng công ty Đông Bắc và các đơn vị khác) làm việc với EVN để xây dựng kế hoạch cung cấp than ổn định lâu dài đáp ứng phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện của EVN theo đúng quy định của pháp luật.

Thủ tướng Chính phủ đồng ý Công ty trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh chủ động nhập khẩu than phục vụ riêng cho hoạt động Nhà máy nhiệt điện của Công ty.

Theo nangluongvietnam.vn

Tin liên quan