Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ VÀ CÁC NƯỚC ASEAN SẼ LÀ ĐỘNG LỰC CHÍNH GIÚP TĂNG MỨC NHU CẦU THAN LÊN 9 TỶ TẤN/ NĂM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN 2019

Theo báo cáo thường niên với tên gọi Báo cáo Thị trường than Trung hạn của Tổ chức Năng lượng Quốc tế (IEA), trong 5 năm tới, nhu cầu than toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục tăng mạnh,  đạt mức 9 tỷ tấn vào năm 2019. Theo báo cáo trên, bất chấp những nỗ lực của chính quyền Bắc Kinh nhằm giảm bớt lượng than tiêu thụ hàng năm, Trung Quốc vẫn đạt tỷ trọng lớn, chiếm khoảng 3/5 tốc độ tăng trưởng tiêu thụ than toàn cầu  trong giai đoạn trên. Nước này, cùng với Ấn Độ và các quốc gia ASEAN, sẽ là những động lực chính đẩy lượng cầu tiêu thụ than toàn cầu tăng nhanh, ngược với xu hướng đi xuống tại các nước Châu Âu và Mỹ.

Giám đốc Điều hành IEA, Maria van der Hoeven, đánh giá kinh tế châu Á trong thời gian tới vẫn sẽ là khu vực năng động nhất và nhu cầu về than sẽ không là ngoại lệ, chiếm ¾ lượng than tiêu thụ trên toàn thế giới. Theo ông, hàng loạt nhà máy nhiệt điện than được xây dựng trong khu vực với công nghệ cũ tiêu thụ lượng than lớn và không hiệu quả về kinh tế sẽ đặt ra những bài toán cần giải quyết về an ninh năng lượng và môi trường toàn cầu.

Tốc độ tăng trưởng về nhu cầu than toàn cầu đã chậm lại trong những năm gần đây so với các con số dự đoán. Nhu cầu than sẽ tăng ở mức 2,1% cho đến 2019. Trong báo cáo của năm 2013, IEA dự đoán tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2013-2018 là 2,3%. Trong bất kỳ kịch bản nào suốt thập kỷ qua, Trung Quốc sẽ luôn là đòn bẩy chính cho thị trường than khu vực và thế giới. Vừa là nhà khai thác than lớn nhất thế giới, nước này cũng là quốc gia nhập khẩu than và tiêu thụ than số một. Nước này đang tiến hành các biện pháp kinh tế vĩ mô mạnh mẽ để đa dạng hóa nguồn cung năng lượng nhưng kết quả đạt được là chưa tương xứng với kỳ vọng.

Chính quyền Trung Quốc và một số nước như Indonesia, Hàn Quốc, Đức và Ấn Độ đã áp dụng nhiều chính sách quản lý mới liên quan đến than trong thời gian qua và đây cũng là nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến thị trường than toàn cầu.

Bài toán về mức giá than thấp cũng gây khó khăn cho các nước xuất khẩu. Báo cáo năm ngoái của IEA đã đề cập đến việc nhiều doanh nghiệp tại các nước trên đã làm ăn thua lỗ. Giá than đã xuống thấp trong năm ngoái tuy nhiên do một số yếu tố bên ngoài, nhiều doanh nghiệp chủ chốt đã trụ được qua khó khăn. Theo ông Keisuke Sadamori, Giám đốc Thị trường năng lượng và An ninh năng lượng của IEA cho biết, mặt bằng giá than đã được hỗ trợ không phải vì khả năng cắt giảm giá thành sản xuất, quản lý hiệu quả hơn của doanh nghiệp mà do các yếu tố bên ngoài khác như sự mất giá của tiền tệ tại các quốc gia xuất khẩu than chủ chốt và sự sụt giảm của giá dầu vì dầu cũng chiếm một tỷ trọng cao trong chi phí khai thác tại các mỏ.

Tính riêng nhu cầu sử dụng than tại các nước thuộc tổ chức OECD dự kiến sẽ tiếp tục giảm vì nhu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc tăng cũng không bù đắp được xu thế giảm chung của các nước khu vực châu Âu và Mỹ. Tại Mỹ, khả năng lên ngôi của dầu đá phiến (shale gas) sẽ lớn dần dẫn đến lượng than tiêu thụ tại nước này sẽ giảm 1,7% trong giai đoạn từ nay đến năm 2019. Tỷ trọng của Úc trong xuất khẩu than sẽ tăng do đối thủ chính của nước này, Indonesia, đang có mức nhu cầu nội địa tăng cao, chính sách quản lý xuất khẩu siết chặt và quá trình giao nhận và vận chuyển than còn chậm so với Úc.

Báo cáo Trung hạn về Thị trường than thế giới 2014 đã nhấn mạnh các nội dung sau:

      Trong năm 2013, nhu cầu than tiếp tục tăng và vẫn là năng lượng hóa thạch có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Dù tốc độ tăng trưởng nhu cầu than năm 2013 là 2,4% tương đương 188 triệu tấn, tăng nhẹ so với 2012, tốc độ này vẫn thấp hơn mức tăng trung bình 10 năm qua là 4,6%.

     Trung Quốc vẫn là trung tâm của thị trường than thế giới và là động lực chính của tốc độ tăng trưởng thị trường than thế giới. Trung Quốc tiêu thụ hơn 50% lượng than tiêu thụ toàn thế giới. Ngoài ra, nước này cũng là quốc gia khai thác và nhà nhập khẩu than lớn nhất thế giới. Năm 2013, Trung Quốc nhập khẩu mức kỷ lục 341 triệu tấn.

      Giá than nhiệt và than luyện kim tiếp tục giảm trong năm 2014. Giá thị trường than quốc tế chịu sức ép lớn do cung vượt cầu và quyết định hạ giá thành của các nhà sản xuất than Trung Quốc để dành thị phần. Giá than nhiệt châu Âu đã giảm xuống mức trung bình 70-80 USD/tấn trong năm 2014 và giá than luyện kim của Úc xuống từ 112-116 USD/tấn thời điểm tháng 4/2014. Với mặt bằng giá thấp như vậy, các nhà sản xuất đã phải nỗ lực để tiết giảm chi phí sản xuất, tuy nhiên, rất nhiều trong số này vẫn phải tiếp tục hoạt động với giá bán thấp hơn chi phí sản xuất.

    Trong giai đoạn từ nay đến 2019, nhu cầu than thế giới sẽ dần khởi sắc. Mức tiêu thụ than toàn cầu sẽ tăng hàng năm khoảng 2,1%, tương đương 772 triệu tấn quy than (Mtoe). Phần lớn trong số này là nhờ mức tăng của Trung Quốc đạt 471 triệu tấn quy than. Nhu cầu của Ấn Độ và các nước ASEAN với lượng than tăng thêm mỗi năm lần lượt là 117 triệu tấn quy than và 79 triệu tấn quy than cũng sẽ góp phần giúp thị trường sôi động trở lại.

      Các tuyến vận tải biển chuyên chở than trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương sẽ nhộn nhịp hơn trong thời gian tới. Nhu cầu nhập khẩu than của Ấn Độ sẽ là yếu tố kích thích thị trường với mức tăng khoảng 9,7%/năm tương đương với mức tăng 103 triệu tấn quy than. Do vậy, Ấn Độ sẽ đóng góp gần một nửa trong tốc độ tăng trưởng trong giao dịch vận chuyển than đường biển của khu vực. Con số của chiều xuất ngược lại sẽ là từ Úc và Indonesia với lần lượt là 76 và 42 triệu tấn quy than.

Khả năng mở rộng sản xuất tại các mỏ ở các quốc gia xuất khẩu trong thời gian tới cũng khá ấn tượng với mức dự kiến 100 triệu tấn/ năm (khả năng cao) và 400 triệu tấn/ năm (tiềm năng). Tuy nhiên, các nhà đầu tư mỏ cũng sẽ thận trọng hơn khi xét đến tình hình cung vượt cầu trong thời gian vừa qua.

Tin liên quan