Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Khi tro bay xỉ than nhiệt điện vẫn còn là tâm điểm dư luận

Câu chuyện xung quanh việc tro bay xỉ than nhà máy nhiệt điện than gây ô nhiễm, bức xúc trong nhân dân diễn ra gần đây, một lần nữa đưa vấn đề xử lý, tận dụng hiệu quả tro bay xỉ than của các nhà máy nhiệt điện thành tâm điểm của dư luận. Thực tế, tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện có thể là nguyên liệu đầu vào rất tốt cho sản xuất các loại vật liệu xây dựng như: sản xuất gạch không nung, bê tông nhẹ, làm tấm trần, tường thạch cao, gốm sứ rất hiệu quả, đặc biệt là phụ gia cho sản xuất xi măng.

 

Theo các tài liệu khoa học, trong quá trình đốt cháy than để sản xuất điện, khoảng 20% chất vô cơ không cháy và cả lượng than chưa cháy hết bị dính vón thành các hạt lớn và rơi xuống đáy lò gọi là xỉ than hay tro đáy và 80% chất vô cơ không cháy còn lại sẽ bay theo khói lò thoát ra ngoài thành tro bay với khối lượng hàng triệu tấn mỗi năm. Tro bay xỉ than thường được thu hồi bằng hệ thống lọc bụi tĩnh điện.

 

Hiện cả nước có 18 nhà máy nhiệt điện than đang hoạt động sử dụng nguồn than trong nước khoảng 20 triệu tấn mỗi năm, và theo một ước tính, các nhà máy này thải ra trên ba triệu tấn xỉ than hàng năm, bên cạnh một lượng tro bay lớn gấp vài ba lần.

 

Theo Quy hoạch điện VII, các nhà máy nhiệt điện chuẩn bị đưa vào vận hành sắp tới sẽ sử dụng tối đa nguồn than khai thác trong nước, bên cạnh nguồn than nhập khẩu. Theo quy hoạch này, để sản xuất được 156 tỷ kWh điện mỗi năm vào năm 2020 (tổng công suất nhiệt điện than khoảng 36.000 MW) thì phải tiêu thụ hơn 67 triệu tấn than và đến năm 2030 khi tổng công suất nhiệt điện than tăng lên 75.000 MW thì phải cần đến 171 triệu tấn than. Điều đó đồng nghĩa với lượng xỉ than tro đáy lên đến 14 triệu tấn mỗi năm vào năm 2020, và gần 35 triệu tấn tro đáy hàng năm vào năm 2030, cùng hàng chục triệu tấn tro bay.

 

gevaren gebruik viagra Đã có giải pháp

 

Tro bay xỉ than của các nhà máy nhiệt điện có thể làm phụ gia trong sản xuất xi măng, bê tông. Ngoài ra, tro bay xỉ than còn được sử dụng để làm chất liên kết gia cố các công trình giao thông, sản xuất gạch không nung, bê tông nhẹ, làm tấm trần, tường thạch cao, gốm sứ rất hiệu quả với tổng mức tiêu thụ có thể lên đến hàng chục triệu tấn/năm.

 

Trên thế giới, các quốc gia phát triển luôn khuyến khích sử dụng tro bay xỉ than từ nhà máy nhiệt điện trong xây dựng đường xá và đôi khi là điều kiện bắt buộc. Đơn cử như tại Pháp có đến 99% lượng tro bay xỉ than thải ra được tái sử dụng, tại Nhật Bản, con số này là 80%, tại Hàn Quốc là 85%.

 

Ở nhiều nước khác, tro bay xỉ than chủ yếu được sử dụng để sản xuất gạch không nung. Sản xuất gạch từ nguyên liệu này tiết kiệm năng lượng đến hơn 85% so với việc sản xuất gạch nung truyền thống từ đất sét.

 

Chẳng hạn, tại Mỹ, tro bay xỉ than được sử dụng như một chất phụ gia sản xuất xi măng, hoặc dùng làm vật liệu san lấp mặt bằng hay gia cố nền đường sau khi đã xử lý.

 

Mới đây, công ty SEFA ở South Carolina đã quyết định xây dựng một nhà máy tái chế 400.000 tấn tro bay xỉ than mỗi năm thành pozzolan làm nguyên liệu sản xuất bê tông. Trong khi đó, ở Ấn Độ, hiện có đến hơn 16.000 nhà máy sản xuất gạch từ tro bay xỉ than, giúp tái chế hơn 20 triệu tấn tro bay xỉ than hàng năm và cung cấp hơn 1/6 nhu cầu về gạch của thị trường Ấn Độ.

 

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái chế tro bay xỉ than làm phụ gia cho công nghệ bê tông đầm lăn, sản xuất gạch tuynel, xi măng, thạch cao, than tái chế và cũng đã được áp dụng vào sản xuất. Điển hình như dây chuyền sản xuất gạch không nung với công suất 3 triệu viên/năm của Công ty Nhiệt điện Cao Ngạn, hay ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn sử dụng phụ gia tro bay xỉ than (RCC) trong xây dựng đập thuỷ điện, đã được áp dụng cho các công trình đập thuỷ điện, trước tiên là thuỷ điện Sơn La. Công ty Sông Đà 12 cũng đã đầu tư xây dựng xưởng sản xuất phụ gia bê tông từ tro bay Nhiệt điện Phả Lại bằng phương pháp tuyển tĩnh điện, trong khi Công ty cổ phần Hải Sơn đã đầu tư xây dựng xưởng sản xuất phụ gia bê tông bằng phương pháp đốt trong lò tuynel.

 

http://viajes-machupicchu.com/layouts/pillen/kamagra-med-gutschein-eb.pdf kamagra med gutschein Chung tay hành động

 

Chính phủ đã ban hành quyết định số 121/2008/QĐ-TTg, phê duyệt tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến 2020. Tong đó yêu cầu vật liệu không nung đến 2020 phải chiếm từ 30 - 40% tổng số vật liệu xây dựng trong cả nước, và đây là một tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển vật liệu không nung sử dụng tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện chạy than trong các năm tới.

 

Hơn nữa, nhu cầu sử dụng tro bay và tro đáy làm nguyên vật liệu cho các công trình xây dựng, sản xuất xi măng, bê tông, như đã đề cập ở trên là khá lớn. Chẳng hạn, một nhà máy sản xuất xi măng cỡ vừa như xi măng Kansai Ninh Bình có công suất 1,4 triệu tấn/năm, có thể sử dụng khoảng 280.000 tấn phụ gia/năm.

 

Như vậy, với tổng công suất của các nhà máy xi măng ở Việt Nam khoảng 75 triệu tấn thì nhu cầu tro tuyển dùng làm phụ gia là rất lớn, có thể lên đến 14 triệu tấn tro bay xỉ than.

 

Rõ ràng là đầu ra đối với tro đáy và tro bay đã có, vấn đề còn lại là sự quyết tâm vào cuộc của các cơ quan nhà nước và sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp.

 

Theo kết quả điều tra đánh giá nguồn tro bay xỉ than và các giải pháp sử dụng của Trung tâm Xi măng, Viện VLXD (Bộ Xây dựng) được xây dựng trên cơ sở của Quy hoạch điện VII, khối lượng tro bay xỉ thải trong năm 2015 khoảng 12,8 triệu tấn, đến năm 2020 khoảng 25,4 triệu tấn và đến năm 2030 khoảng trên 30 triệu tấn. Với khối lượng thể tích của xỉ là 0,8 tấn/m3, bãi chứa xỉ có độ sâu trung bình 2m thì trong năm 2015, nhu cầu của diện tích bãi chứa mỗi năm là 127,4 ha và sẽ còn tăng nhiều hơn nữa theo Quy hoạch điện VII (nếu không có giải pháp sử dụng ngay từ bây giờ).

 

Vào cuối tháng 9/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1696/QĐ-TTg về một số giải pháp thực hiện xử lý tro, xỉ, thạch cao của nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất phân bón để làm nguyên liệu sản xuất VLXD, đến năm 2020, chỉ cấp diện tích bãi thải cho các dự án nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón với dung lượng chứa tối đa cho 2 năm sản xuất tương đương với quy mô, công suất của dự án.

 

Bên cạnh đó, QĐ 1696 cũng đưa ra 7 giải pháp thực hiện quyết định này. Trong đó, quy định thiết kế cơ sở các dự án nhiệt điện, hóa chất phải hoàn chỉnh đến khâu xử lý tro, xỉ, thạch cao và phương án thu hồi, xử lý các chất thải này. Đặc biệt, quyết định cũng nêu rõ, chủ đầu tư các nhà máy nhiệt điện, hóa chất phải có trách nhiệm trả chi phí xử lý tro, xỉ, thạch cao trong trường hợp không tự đầu tư dây chuyền thiết bị xử lý chất thải cho sản xuất VLXD.

 

Như vậy, Chính phủ đã có những giải pháp quyết liệt hơn trong việc xử lý tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện, hóa chất. Và kỳ vọng chúng ta có thể sử dụng các loại phế phẩm này làm phụ gia cho sản xuất các loại VLXD để không phải đi nhập phế phẩm từ các nước khác trên thế giới và đặc biệt không phải khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt là có cơ sở.

 

Còn chừng nào chúng ta chưa có giải pháp triệt để, hiệu quả, biến tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện thành vật liệu kinh tế hữu hiệu thì vấn đề tâm điểm dư luận về môi trường nhiệt điện than là điều khó tránh khỏi.

Nguồn: Nangluongvietnam.

 

ĐƯA CÔNG NGHIỆP ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ LÀ 1 TRONG 5 LĨNH VỰC CỐT LÕI CỦA PVN

Đây là ý kiến phát biểu của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại lễ kỷ niệm 10 năm ngày thành lập (17/5/2007- https://www.viagrapascherfr.com/viagra-naturel-femme-gel/ 17/5/2017) của Tổng Công ty Điện lực Dầu khí (PV Power), đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).

Vinh danh những lao động tiêu biểu xuất sắc của PV Power

Báo cáo của PV Power cho thấy, trong chặng đường 10 năm xây dựng, phát triển, mặc dù bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự đoàn kết, nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên, người lao động của PV Power đã từng bước trưởng thành, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Tập đoàn PVN giao phó; trở thành doanh nghiệp sản xuất điện lớn thứ 2 sau Tập đoàn Điện lực Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc sản xuất cung cấp điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội đất nước cũng như đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Tính đến nay, PV Power  đang quản lý 8 nhà máy điện đa loại hình từ nhiệt điện khí, thủy điện, điện than với tổng công suất đặt là 4.208MW, chiếm 12% tổng công suất nguồn của cả nước, tăng 5,6 lần so với thời điểm năm 2007. Hàng năm cũng cấp cho hệ thống điện quốc gia trên 21 tỷ kWh, chiếm 13% tổng sản lượng toàn hệ thống. Đặc biệt, PV Power là đơn vị sản xuất điện khí lớn nhất của đất nước với quy mô công suất các nhà máy đạt 2.700MW.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phát biểu

Phát biểu tại buổi Lễ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng ghi nhận, đánh giá cao những kết quả mà PV Power đạt được trong thập kỷ vừa qua. Đồng thời mong muốn PVN và PV Power cần tập trung huy động mọi nguồn lực để thực hiện đúng tiến độ, chất lượng các dự án nhiệt điện đang triển khai, đảm bảo tăng cường nguồn cho hệ thống điện quốc gia; Tiếp tục quản lý vận hành hiệu quả các nhà máy điện; nghiên cứu các dự án mới cho giai đoạn tiếp theo; đẩy mạnh tái cơ cấu để phát triển bền vững, trở thành đơn vị nòng cốt của Tập đoàn và đưa công nghiệp điện lực dầu khí là 1 trong 5 lĩnh vực cốt lõi của PVN.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cùng các lãnh đạo của PVN, PV Power

Được biết, PV Power được thành lập theo định hướng phát triển của PVN theo hướng đa dạng hóa ngành nghề sản phẩm lĩnh vực dầu khí, năng lượng, trong đó sản xuất kinh doanh điện năng là một trong 5 lĩnh vực hoạt động cốt lõi của Tập đoàn. PV Power thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính là SXKD điện năng, tham gia xây dựng phát triển các nguồn điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nguồn bài viết: Công Thương
Tác giả Đình Dũng

NỖ LỰC ĐỂ ĐÁP ỨNG ĐỦ ĐIỆN CHO NỀN KINH TẾ

 
Phó Thủ tướng yêu cầu PV Power đánh giá toàn diện các vấn đề của đơn vị, tìm ra những điểm tồn tại để từ đó khắc phục nhanh nhất hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành sản xuất và đầu tư kinh doanh. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh nội dung này khi dự lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power).

Theo báo cáo của PV Power, chỉ trong 10 năm, Tổng công ty đã vươn lên trở thành nhà cung cấp điện năng lớn thứ 2 của đất nước, chỉ sau Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Tổng công suất nguồn điện của đơn vị đến nay đã đạt hơn 4.200 MW; hằng năm cung cấp trên 10% sản lượng điện cho toàn hệ thống điện quốc gia. Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, nghĩa vụ tài chính được bảo đảm với tổng doanh thu đạt hơn 180.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế hơn 9.600 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 8.800 tỷ đồng.

Trong những năm gần đây, trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững,  PV Power đã tập trung đầu tư xây dựng, quản lý vận hành an toàn, có hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu về môi trường các nhà máy nhiệt điện khí, nhiệt điện than.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng ghi nhận, biểu dương những kết quả mà tập thể cán bộ, công nhân viên chức và người lao động PV Power đạt được trong thời gian qua.

Trong thời gian tới, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu PV Power tập trung đánh giá toàn diện các vấn đề của đơn vị, tìm ra những điểm tồn tại, rút ra những bài học để từ đó khắc phục nhanh nhất hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành sản xuất và đầu tư kinh doanh, tạo đà cho bước phát triển mới hiệu quả và bền vững hơn.

Trong đầu tư xây dựng, quản lý vận hành khai thác các dự án điện, Tổng công ty cần tập trung huy động mọi nguồn lực để thực hiện đúng tiến độ các dự án nhiệt điện đang triển khai (Thái Bình 2, Long Phú 1 và Sông Hậu 1); khẩn trương hoàn thành các thủ tục để tổ chức triển khai thực hiện các dự án điện khí (miền Trung 1, miền Trung 2, Sơn Mỹ 2, Nhơn Trạch 3 và 4…) theo đúng tiến độ đã được Chính phủ giao, bảo đảm chất lượng và hiệu quả đầu tư, không để xảy ra thất thoát lãng phí.

Tổng công ty phải bảo đảm vận hành tuyệt đối an toàn, hiệu quả các nhà máy điện khí đã đầu tư (Cà Mau 1-2, Nhơn Trạch 1-2, nhiệt điện than Vũng Áng 1, thủy điện Hủa Na, Đăk Drinh). Bên cạnh đó, phải tiếp tục nghiên cứu các dự án mới cho giai đoạn tiếp theo.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động thực hiện tích cực và quyết liệt tái cơ cấu doanh nghiệp; chú trọng hoàn thiện mô hình tổ chức, nâng cao năng lực quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh; thường xuyên quan tâm đời sống và việc làm của người lao động, hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội trong đơn vị, công tác nhân đạo, từ thiện…

Nhiệt điện vẫn là nguồn chủ lực

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng đã dành thời gian phân tích sâu về các thách thức hiện nay để thực hiện mục tiêu bảo đảm điện cho nền kinh tế.

Theo Phó Thủ tướng, trong thời gian tới, lĩnh vực sản xuất và cung ứng điện tiếp tục được khẳng định là một trong những lĩnh vực đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa then chốt, có tính chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Nhu cầu điện ngày càng tăng cao, dự báo nhu cầu năm 2020 có thể gấp rưỡi hiện nay, trong khi đó thuỷ điện đã đến “ngưỡng”, không thể tiếp tục phát triển. Trong cơ cấu nguồn điện hiện nay, thuỷ điện chiếm khoảng 40% nhưng tỉ lệ này sẽ ngày càng giảm. Do đó, bắt buộc phải phát triển các nguồn điện thay thế. Tuy nhiên, việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo hiện chưa thể triển khai trên quy mô lớn do chi phí quá cao.

“Nhiệt điện, đặc biệt là nhiệt điện chạy than, chạy khí vẫn là nguồn điện chủ lực trong giai đoạn từ nay đến 2030 và có thể những năm sau đó”, Phó Thủ tướng nói.

Ngoài ra, sức ép đối với ngành điện còn đến từ sự mất cân đối giữa nguồn cung và nhu cầu sử dụng của từng vùng. Trong khi miền Nam sử dụng trên 50% tổng nhu cầu điện năng (miền Bắc gần 40%, miền Trung gần 10%) thì nguồn điện hiện nay lại tập trung chủ yếu ở miền Bắc (trên 50%), miền Nam chỉ có thể tự sản xuất dưới 40%. Do đó, tình trạng thiếu điện cục bộ hiện cũng đang là bài toán khó đối với ngành.

“Nguy cơ năm 2018 sẽ thiếu điện ở phía nam nếu các nhà máy đang đầu tư không đáp ứng yêu cầu tiến độ. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề”, Phó Thủ tướng nói.

Phát triển nguồn điện còn gặp khó khăn do cần kinh phí rất lớn, trong khi đó năng lực của các nhà đầu tư còn hạn chế. Việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng, vốn nước ngoài cũng gặp rất nhiều khó khăn do trần nợ công đang ở mức cao.

 

Theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, một thách thức đối với ngành điện là phải vừa phát triển nhiệt điện nhưng phải bảo đảm môi trường. Đây là việc rất khó, nhưng bắt buộc phải thực hiện.

“Đây là giai đoạn rất khó khăn, do đó đòi hỏi nỗ lực cao nhất từ các doanh nghiệp trong ngành điện với mục tiêu bảo đảm điện cho phát triển kinh tế”, Phó Thủ tướng nói.

Nguồn bài viết: baochinhphu.vn
Tác giả Xuân Tuyến

Sáu nhiệm vụ trọng tâm của TKV trong tình hình mới

Tròn 10 năm (25/5/2007 - 25/5/2017) xây dựng và trưởng thành. Qua 2 kỳ đại hội, Đảng bộ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) luôn bám sát chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tình hình thực tiễn của thị trường để đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khẳng định vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo Tập đoàn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

 

viagra och liknande preparat Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị

 

Đảng bộ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 85-QĐ/ĐUK ngày 25/5/2007 của Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương. Khi mới thành lập, Đảng bộ Tập đoàn có 11 chi, đảng bộ và trên 2.300 đảng viên được tách ra từ Đảng bộ Than Quảng Ninh, bao gồm Đảng bộ Cơ quan Tập đoàn và một số Đảng bộ công ty là chi nhánh trực thuộc Tập đoàn. Đến nay Đảng bộ Tập đoàn có 28 chi, đảng bộ cơ sở trực thuộc với gần 5.200 đảng viên.

 

Mười năm qua, Đảng bộ Tập đoàn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương, phát huy tinh thần chủ động, tích cực, sâu sát và sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao. Đảng bộ Tập đoàn đã từng bước kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức, bộ máy, đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng và hiệu quả của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường và duy trì tốt mối quan hệ công tác với các Đảng bộ địa phương nơi có hoạt động SXKD của Tập đoàn trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng.

 

Bên cạnh đó, Đảng bộ Tập đoàn luôn bám sát thị trường để điều hành linh hoạt các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra chuỗi các giá trị gia tăng; từng bước hoàn thiện các quy chế quản lý điều hành trên các lĩnh vực công tác, đầu tư áp dụng công nghệ hiện đại, năng lực sản xuất được nâng cao, đời sống cán bộ, CNVC và người lao động không ngừng được cải thiện.

 

Tập đoàn đã từng bước đầu tư mở rộng, nâng cao công suất các mỏ hiện có, các mỏ mới và các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính để tạo đủ năng lực phát triển qua đó góp phần quan trọng trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đất nước, đảm bảo an sinh xã hội.

 

Nếu như năm 2007 sản lượng than khai thác đạt 43,1 triệu tấn, tiêu thụ than đạt 41,7 triệu tấn thì đến 2012 sản lượng than khai thác đã đạt 48,28 triệu tấn, tăng 20% so với 2007, tiêu thụ than đạt 44,7 triệu tấn, tăng 7% so với năm 2007.

 

Trong giai đoạn 2012 - 2017 mặc dù nhu cầu than trong nước tăng lên nhưng do các chính sách thuế, phí và công tác quản lý thị trường tiêu thụ than còn có những bất cập do vậy Tập đoàn đã phải điều chỉnh sản xuất phù hợp với diễn biến của thị trường. Theo đó năm 2016 sản lượng than khai thác đạt 34,5 triệu tấn, tiêu thụ than đạt 35 triệu tấn (trong đó: trong nước 34,7 triệu tấn, bằng 198% so với 2007; xuất khẩu 0,7 triệu tấn, giảm 24 triệu tấn tương ứng giảm 98% so với 2007).

 

Tính chung trong giai đoạn 2007 - 2016, tổng sản lượng khai thác than đạt 421,49 triệu tấn, tiêu thụ 392,2 triệu tấn.

 

Đối với lĩnh vực khoáng sản, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Tập đoàn đã phát triển ngành công nghiệp khoáng sản theo hướng tăng cường chế biến sâu, tạo ra bước đột phá mạnh mẽ, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế. Thay vì chủ yếu khai thác, sản xuất và xuất khẩu quặng tinh, hơn nửa thập niên trở lại đây, Tập đoàn đã đầu tư một loạt nhà máy chế biến kim loại màu bao gồm: đồng, chì, kẽm, alumin và đang đầu tư các dự án mới sản xuất gang thép, cromit và các kim loại khác.

 

Trên nền công nghiệp than - khoáng sản, Tập đoàn đã phát triển thành công các lĩnh vực nhiệt điện, thủy điện; vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí, vật liệu xây dựng và nhiều lĩnh vực khác.

 

Trong vòng gần 10 năm trở lại đây, tổng doanh thu của toàn Tập đoàn đã tăng từ 38,404 nghìn tỷ đồng năm 2007 lên 101,5 nghìn tỷ đồng năm 2016. Tập đoàn SXKD có lãi, bảo toàn, phát triển vốn Nhà nước, tăng cường năng lực tài chính, đảm bảo an toàn và khả năng thanh toán của Tập đoàn. Liên tục từ năm 2007 đến 2016, lợi nhuận trước thuế và tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu của Tập đoàn luôn đạt từ 8,2-27,5%.

 

Riêng hai năm gần đây, do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới, trong nước và ảnh hưởng của mưa lũ nên chỉ số này có hạ xuống nhưng vẫn đạt lợi nhuận từ 850 đến trên 1.000 tỷ đồng/năm. Nộp ngân sách Nhà nước bình quân 12,42 ngàn tỷ đồng/năm.

 

Bên cạnh đó, Tập đoàn đã tích cực thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp theo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Tập đoàn đã hoàn thành việc thực hiện Quyết định 314-QĐ/TTg ngày 07/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu TKV giai đoạn 2012-2015, trong đó tập trung vào nâng cao năng lực sản xuất của 4 lĩnh vực SXKD chủ yếu là than - khoáng sản, điện lực, vật liệu nổ công nghiệp.

 

Đối với các lĩnh vực SXKD khác như cơ khí, thương mại, dịch vụ, đã phân loại và có lộ trình tái cơ cấu, theo đó đã thoái một phần hoặc thoái hết vốn, đẩy mạnh CPH mà Tập đoàn nắm giữ dưới mức chi phối để tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi.

 

http://ratskeller-waren.de/styles/blog/mögliche-nebenwirkungen-von-viagra-fa.html mögliche nebenwirkungen von viagra Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh

 

Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, trong 10 năm qua, Đảng uỷ Tập đoàn đã tập trung xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện nhiều nghị quyết quan trọng, kịp thời và phù hợp với tình hình thực tế, qua đó đã tạo ra những bước chuyển biến căn bản trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; nâng cao chất lượng công tác lãnh chỉ đạo; xây dựng Đảng và các tổ chức đoàn thể trong sạch, vững mạnh… Các nghị quyết đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần đưa ngành Than - Khoáng sản phát triển mạnh mẽ như ngày hôm nay.

 

Ngoài ra, để khắc phục những bất cập về mô hình tổ chức Đảng trong Tập đoàn, tạo sự đồng thuận cao trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng, Đảng ủy Tập đoàn đã xây dựng quy chế phối hợp với các tỉnh ủy, thành ủy trong cả nước nơi có đơn vị sản xuất kinh doanh của Tập đoàn, Đảng ủy Than Quảng Ninh và Đảng ủy Khối Công nghiệp Hà Nội để phối hợp lãnh đạo.

 

Trong công tác lãnh đạo xây dựng đảng và các đoàn thể quần chúng, Đảng bộ đã tổ chức học tập, quán triệt và triển khai chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối DNTW, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tập đoàn, xây dựng chương trình hành động thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Chính phủ. Đảng bộ đã triển khai sâu rộng và hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, tạo sự lan tỏa về tấm gương đạo đức của Bác trong mỗi cán bộ, đảng viên, từ đó tạo sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, chung sức đồng lòng, khắc phục khó khăn, vươn lên để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

 

http://elitechoice-properties.com/public/topic/viagra-mit-drogen-25.pdf viagra mit drogen Sáu nhiệm vụ trọng tâm

 

Chặng đường phía trước đang mở ra cho Tập đoàn nhiều thời cơ thuận lợi, tuy nhiên cũng không ít khó khăn, thách thức. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tập đoàn lần thứ II, trong thời gian tới Đảng bộ Tập đoàn tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những yếu kém, tồn tại, tập trung lãnh đạo thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:

 

Một là: Lãnh đạo thực hiện thắng lợi Đề án tái cơ cấu TKV giai đoạn 2016 - 2020. Đồng thời lãnh đạo kiện toàn mô hình hệ thống chính trị ở các đơn vị sau tái cơ cấu. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng, giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Tập đoàn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác cán bộ, tổ chức xây dựng đảng. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng trong doanh nghiệp, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện.

 

Hai là: Tăng cường lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ SXKD, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị hàng năm và kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 với mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ than cho các hộ tiêu thụ trong nước mà TKV đã ký cam kết. Chỉ đạo quyết liệt công tác an toàn vệ sinh lao động, công tác môi trường, đảm bảo tiến độ các dự án trọng điểm.

 

Ba là: Triển khai đồng bộ 6 chương trình trọng tâm đã nêu trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Tăng cường lãnh đạo triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ cấp trên và những định hướng lớn về chủ trương phát triển Tập đoàn để tạo sự đồng thuận trong thực hiện nhiệm vụ.

 

Bốn là: Làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, có năng lực đáp ứng sự nghiệp phát triển của Tập đoàn, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

 

Năm là: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát của đảng đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ, giữ vững kỷ cương trong điều hành của Tập đoàn. Tiếp tục làm tốt công tác dân vận, đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng văn hóa doanh nghiệp và văn hóa TKV, xây dựng và quảng bá thương hiệu TKV, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và giá trị doanh nghiệp của Tập đoàn và các công ty thành viên.

 

Sáu là: Tiếp tục kiến nghị với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, cấp ủy và chính quyền các địa phương trong việc tạo điều kiện tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về cơ chế, chính sách để Tập đoàn thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển bền vững ngành Than - Khoáng sản theo kế hoạch 2010 - 2016 đã được Chính phủ phê duyệt.

 

Mười năm qua là chặng một đường gian khó nhưng vẻ vang và rất đỗi tự hào, đánh dấu sự trưởng thành, phát triển của Đảng bộ Tập đoàn trước những trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó. Kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Đảng bộ Tập đoàn (25/5/2007 - 25/5/2017), cán bộ, đảng viên, CNVC - NLĐ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tự hào trước những thành tựu đạt được, phát huy truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tập đoàn lần thứ II, xây dựng Tập đoàn phát triển, giữ vững vai trò Tập đoàn kinh tế hàng đầu của đất nước, một trong ba trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Nguồn: Nangluongvietnam.

 

Năng lượng Việt Nam trong buổi bình minh CMCN 4.0

Trong thời gian gần đây, nhiều người, nhiều báo chí trên thế giới và cả Việt Nam nói đến Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư (Cách mạng công nghiệp 4.0). Tuy nhiên, để nắm bắt, hiểu nó không dễ dàng. Mục tiêu, nội dung, khả năng tiếp nhận Cách mạng công nghiệp 4.0 như thế nào? Cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để chọn lọc tiếp thu. Theo nhiều chuyên gia, Cách mạng công nghiệp 4.0 mới là "dự báo", là khởi đầu "buổi bình minh" của cuộc cách mạng công nghiệp mới đầu thế kỷ 21! Để nghiên cứu tiếp nhận Cách mạng công nghiệp 4.0, chúng ta nên xác định hiện nay Việt Nam đang ở đâu trong các cuộc Cách mạng công nghiệp?

 

Khái niệm về Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 được đề xuất tại Hội chợ thường niên tại Hannover - Cộng hòa Liên bang Đức. Tại đây, các diễn giả đã trình bày một số chương trình dự kiến về công nghiệp của Cộng hòa Liên bang Đức, nhằm nâng cao nền công nghiệp cơ khí của quốc gia này. Theo đó, dự kiến đưa những tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật số vào công nghiệp và gọi là "Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư". Đồng thời một số nước khác như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc cùng đề xuất những chương trình, chiến lược đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ đang diễn ra nhanh chóng vào sản xuất.

 

Nhiều chuyên gia cho rằng, Cách mạng công nghiệp4.0 mới là "dự báo", là khởi đầu "buổi bình minh" của cuộc cách mạng công nghiệp mới trong thế kỷ 21!

 

Từ nhiều nguồn thông tin, chúng ta có thể hiểu đại cương về CMCN 4.0 là quá trình thực hiện số hóa các thực thể, cho phép chúng ta nối chúng với nhau trên các hệ thống máy tính, trên internet, tạo ra không gian số, mô tả thế giới thực, phản ánh mối quan hệ của sản xuất trong thế giới thực và được thực hiện trên không gian số, từ đó các kết quả được đưa về cho sản xuất ở thế giới thực. Đây chính là thay đổi cơ bản phương thức sản xuất của con người, sản xuất được điều khiển và hỗ trợ quyết định từ không gian số.

 

Chúng ta cũng cần tìm hiểu, nhận biết nội dung của CMCN 4.0 đang hướng đến chủ yếu vào lĩnh vực nào? Theo nhiều chuyên gia cho rằng, chủ yếu hướng tới sản xuất thông minh, trên cơ sở đột phá về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano. Một số lĩnh vực có khả năng và đang kết nối phương phức thực hiện, thị trường như: giáo dục, môi trường, y tế, du lịch thông minh… có khả năng sớm đi vào CMCN 4.0. Cũng nhiều chuyên gia cho rằng, CMCN 4.0 có thể chủ yếu không nhằm vào sản xuất công nghiệp như ba cuộc CMCN trước đây.

 

Để nghiên cứu tiếp nhận CMCN 4.0, chúng ta nên xác định hiện nay Việt Nam đang ở đâu trong các cuộc CMCN. Xin điểm lại những mốc, nội dung chính của ba cuộc CMCN đã diễn ra và thực trạng công nghệ Việt Nam.

 

Cuộc CMCN 1.0, diễn ra cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Nhờ có thành tựu máy hơi nước, làm thay đổi phương thức sản xuất từ thủ công, chân tay sang sản xuất cơ giới. CMCN 2.0, diễn ra từ nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, nhờ phát minh ra máy điện, làm thay đổi sản xuất có tính đơn lẻ sang kết nối sản xuất hàng loạt, năng suất lao động tăng cao. CMCN 3.0 từ giữa thế kỷ 20 đến nay, nhờ phát minh máy tính, thiết bị điện tử, tự động hóa, kỹ thuật số, làm cho nền sản xuất được hiệu quả hơn, năng suất lao động cao chưa từng có.

 

Và nay, có thể nói nhân loại đang bước sang CMCN 4.0, cuộc cách mạng sản xuất thông minh, tự động điều khiển, trên nền tảng những đột phá về công nghệ số. Minh họa tóm tắt bốn cuộc cách mạng công nghiệp từ Wikipedia [4], hình sau.

 

 

Hình minh họa các cuộc cách mạng công nghiệp.

 

ungarn viagra apotheke Công nghệ năng lượng Việt Nam

 

Ngành năng lượng Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ hình thành, phát triển và đặc biệt sau hơn 30 năm đổi mới, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, ngành năng lượng Việt Nam đã có những bước tiến khá, rất đáng ghi nhận. Giai đoạn 2001-2010 GDP tăng bình quân 7,26%/năm, 2011-2015 là 5,88%. Năm 2010, GDP đầu người gần 1334 USD/người, năm 2015 là 1685 USD/người. Việt Nam bước qua ngưỡng nước nghèo đạt mức trung bình thấp. Giai đoạn 2011-2015, sản xuất năng lượng tăng khoảng 7%/năm; năm 2015 sản xuất than nguyên khai đạt 37,6 triệu tấn; dầu thô 17,6 triệu tấn; khí đốt 9,8 tỷ m3; tổng công suất điện khoản 39.000MW, sản xuất điện năng đạt 159,4 tỷ kWh; điện tiêu thụ đầu người khoảng 1530kWh/người. Cơ sở hạ tầng của ngành năng lượng phát triển nhanh. Nội dung sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường đang từng bước được quản lý thống nhất và có hiệu quả. Hoạt động năng lượng đang được định hướng dần theo cơ chế thị trường. Ngành năng lượng càng lớn mạnh, hệ thống năng lượng càng phức tạp, đa dạng, quá trình phát triển đang đòi hỏi tính cân đối, thống nhất, hiện đại hóa và hiệu quả cao hơn.

 

Công nghệ sản xuất, truyền tải điện

 

Quy hoạch điện VII điều chỉnh (QHĐVII ĐC), Chính phủ đã phê duyệt 3-2016 [1], tổng điện năng sản xuất so với QHĐVII, được điều chỉnh giảm khoảng 20%, cụ thể năm 2015: 159 tỷ; 2020: 265 tỷ; 2025: 400 tỷ; 2030: 572 tỷ kWh. Trong đó nhiệt điện than vẫn có tỷ trọng lớn, trên 53% tổng sản xuất điện, thủy điện giảm còn hơn 12%, điện từ khí đốt ở mức gần 17%, điện tái tạo tăng 6,5-6,9% giai đoạn 2020-25 lên 10,7% vào 2030. So với QHĐVII, tỷ trọng điện năng từ NLTT được điều chỉnh tăng 1,8 lần, nhưng lượng tuyệt đối không tăng nhiều (chỉ 1,3 lần), vì tổng điện năng sản xuất giảm 20%. Với những chỉ tiêu này chỉ mới đạt 60-70% mục tiêu của Chiến lược phát triển NLTT[4]. Điện sản xuất đầu người năm 2015 là 1800kWh/người; dự báo năm 2020: 2800; 2025: 4100; 2030: 5200 kWh/người.

 

QHĐVII điều chỉnh với cơ cấu công suất, sản lượng theo loại nguồn năng lượng đến năm 2030 được trình bày trong bảng sau [1].

 

Cơ cấu công suất, sản lượng điện theo loại nguồn đến 2030 [ %]

 

 

viagra kaufen ohne kreditkarte 2020

revatio sildenafil preis 2025

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/wirkt-kamagra-mit-alkohol-49.pdf wirkt kamagra mit alkohol 2030

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/bonbons-viagra-aussehen-aa.pdf bonbons viagra aussehen Cơ cấu CS

Cơ cấu SL

Cơ cấu CS

Cơ cấu SL

Cơ cấu CS

Cơ cấu SL

Thủy điện+tích năng

30,1

25,2

20,1

17,4

16,9

12,4

Nhiệt điện than

42,7

49,3

50,0

55,0

42,7

53,3

Nhiệt điện khí+dầu

14,9

16,6

15,8

19,0

14,7

16,8

TĐN+NLTT

9,9

6,5

12,5

6,9

21,0

10,7

Nhập

2,4

2,4

1,5

1,6

1,2

1,2

Điện HN

0

0

0

0

3,6

5,7

 

Công nghệ sản xuất điện, Việt Nam hiện đã sử dụng các tổ máy nhiệt điện công suất khá lớn 300-600MW, thông số hơi cận tới hạn; các thủy điện công suất lớn, khá tiên tiến. Tuy nhiên, hiệu suất sản xuất điện chỉ ở mức trung bình khá.

 

Cũng cần nói thêm rằng, trong công nghệ sản xuất điện, gần đây các nước phát triển đã đưa vào sử dụng công nghệ có thông số hơi tới hạn và siêu tới hạn, hiệu suất sản xuất điện tăng 8-10%, giảm phát thải khí nhà kính trên 10% so với công nghệ cao áp và cận tới hạn.

 

Mặc khác, đã ứng dụng công nghệ số, điều khiển quá trình sản xuất, hiệu quả cũng tăng 3-4%. Tuy vậy, những công nghệ này chưa thể thay đổi bản chất quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta đang chờ đợi công nghệ biến đổi trực tiếp nhiệt, hóa năng thành điện năng, hiệu suất quá trình có thể trên 80%, được thương mại hóa (như máy phát từ thủy động, pin nhiên liệu,...). Dự đoán, đây mới là CMCN 4.0 trong sản xuất điện năng!

 

Về lưới điện, Việt Nam đã hình thành hệ thống thống nhất trong cả nước, tính đến 2015, đường dây 500kV khoảng 5300 km; đường 110-220kV khoảng 32000km; hệ thống trung, hạ áp khoảng 120.000km; và hàng nghìn trạm biến áp tương ứng. Thiết bị cao áp, hệ điều khiển nhập ngoại khá hiện đại; lưới trung hạ thế còn khá bất cập, lạc hậu tổn thất cao, kém an toàn.

 

Công nghệ khai thác, chế biến than

 

Theo Quy hoạch ngành than điều chỉnh 2015 [2] cho thấy, tổng tài nguyên - trữ lượng than của nước ta, tính đến 31-12-2015 là 48,8 tỷ tấn, trong đó than đá 48,4 tỷ, than bùn 0,34 tỷ tấn. Tài nguyên và trữ lượng huy động vào quy hoạch là 3,05 tỷ tấn, trong đó than bùn 0,06 tỷ tấn. Nguồn than đồng bằng Sông Hồng, tuy được đánh giá có tiềm năng lớn, nhưng chưa thể đưa vào quy hoạch. Sản lượng khai thác than có thể đạt: Năm 2015: 55 triệu tấn; năm 2020: 60 triệu tấn; 2030: 70 triệu tấn.

 

Việt Nam đã xây dựng khá đồng bộ các khâu từ thăm dò, khai thác, chế biến và dịch vụ về than. Đến nay khai khác than chủ yếu là công nghệ hầm lò (khoảng 70-80%). Ngành than đang thực hiện hàng chục dự án nâng cấp công nghệ, mở rộng các mỏ: Cẩm Phả, Hòn Gai, Uông Bí, Na Dương,… Tuy nhiên, hiện nay các thiết bị khai thác phần lớn ở trình độ thấp, chậm được đổi mới, tỷ lệ than khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa còn thấp; công việc phá vỡ than, đất đá hiện chủ yếu bằng khoan nổ mìn, khoan điện cầm tay, năng suất thấp, giá thành khai thác cao. Bể than Đồng bằng Sông Hồng đang cần thăm dò bổ sung, lựa chọn khu vực chứa than triển vọng, có điều kiện địa chất - mỏ thích hợp, đồng thời lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp, hiệu quả, đảm bảo an toàn môi trường, làm cơ sở cho kế hoạch khai thác các giai đoạn tới.

 

Vấn đề nhập than chủ yếu cho sản xuất điện mấy năm qua được đề cập khá nhiều, tuy nhiên chưa có giải pháp nào chắc chắn, bền vững. Nhưng trên thực tế nhập than đã sớm hơn dự kiến.

 

Công nghệ trong sản xuất, chế biến than ở Việt Nam được đánh giá chỉ ở mức trung bình, nếu không nói còn lạc hậu.

 

Công nghệ khai thác chế biến dầu - khí

 

Theo đánh giá của ngành dầu - khí, trữ lượng dầu - khí của Việt Nam có thể thu hồi là 3,8-4,2 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng đã được xác minh khoảng 1,05-1,14 tỷ tấn, trong đó khí đốt chiếm trên 60%[3]. Dự báo khả năng khai thác dầu - khí giai đoạn tới 2030, kể cả đầu tư ra nước ngoài như sau:

 

Dầu thô: 2015: 20,0; 2020: 20,7; 2025: 21,7; 2030: 22,0 triệu tấn. Trong đó khai thác nội địa chiếm khoảng 80%.

 

Khí đốt: 2015: 11; 2020: 17; 2025: 17; 2030: 17 tỷ m3.

 

Nguồn dầu - khí trong nước, với mức độ hiểu biết hiện nay, rõ ràng rất hạn chế, không thể đảm bảo cho nhu cầu. Các nhà hoạch định chính sách cũng đã nhìn thấy bất cập này. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cũng đang nỗ lực tìm giải pháp khắc phục, trong đó kể cả đầu tư ra nước ngoài để bổ sung sản lượng dầu. Tuy nhiên, việc đầu tư ra nước ngoài những năm qua cũng gặp nhiều khó khăn. Mấy năm gần đây, thị trường dầu thế giới cung vượt cầu, giá dầu giảm tới 50%, hiện nay chỉ còn khoảng 50-55USD/thùng, gây bất ổn thị trường năng lượng nói chung, ảnh hưởng lớn tới cả kinh tế thế giới.

 

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, giá dầu còn thay đổi khó lường, ảnh hưởng lớn tới nguồn năng lượng trong nước.

 

Việt Nam đã xây dựng được tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ công nghệ dầu - khí từ khâu tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến và dịch vụ dầu khí. Khai thác dầu - khí đều diễn ra ở ngoài biển, chủ yếu sử dụng công nghệ các nước tiên tiến, được đánh giá khá hiện đại. Gần đây PVN đã bước đầu tự chế tạo dàn khoan có khả năng khoan sâu 9000m, khoan khai thác 120m, tiến dần tự trang bị, giảm chi phí khai thác.

 

Năng lượng tái tạo

 

Việt Nam được đánh giá có tiềm năng năng lượng tái tạo (NLTT) khá phong phú. Tiềm năng gió được đánh giá khoảng 150.000 MW, bức xạ mặt trời trung bình đạt 3,5 kWh/m2/ngày ở phía Bắc, 4,5 kWh/m2/ngày ở phía Nam. Tuy nhiên, đến nay tài liệu, số liệu khảo sát, đo đạc còn thiếu và độ tin cậy thấp. Về thể chế đã có quan tâm nhưng chưa đủ để khuyến khích đầu tư, phát triển sử dụng. Việc sử dụng năng lượng mặt trời để đun nước được đánh giá là bắt đầu có hiệu quả.

 

Đến 2015 tổng công suất điện tái tạo so với tiềm năng còn khá khiêm tốn (mới khỏang 2000 MW), chiếm 5% công suất và 3,9% tổng điện năng hệ thống. Dự kiến tăng nhanh như trình bày trong bảng trên. Nhiều dự án điện gió như ở Ninh Thuận, Bạc Liêu..., tuy giá thành điện còn khá cao, nhưng đã bước đầu phát huy tác dụng.

 

Với sức ép về bảo vệ môi trường, phát triển và sử dụng NLTT gần đây được chú ý ở hầu khắp các nước, đặc biệt sau thỏa thuận Paris 2015. Sử dụng NLTT sẽ góp phần giảm phát thải khí nhà kính (KNK) đáng kể. Tuy nhiên loại công nghệ này có phải là nội dung hướng tới của CMCN 4.0 còn phải xem xét đánh giá.

 

Đối với Việt Nam, hiện tại và thời gian tới, công nghệ NLTT chủ yếu quy mô nhỏ, nhập ngoại, việc tự chế tạo pin mặt trời, cánh quạt gió, chắc còn cần thời gian nhận chuyển giao công nghệ và đầu tư lớn.

 

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

 

Đây là khâu cực kỳ quan trọng, nó được đánh giá là tạo ra nguồn năng lượng sạch giá rẻ, là quốc sách thâm canh trong năng lượng. Chúng ta đã xây dựng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ, thực hiện các chương trình, dự án TK&HQNL, tuy hoạt động khá sôi nổi nhưng tính lan tỏa và hiệu quả còn hạn chế. Mức độ tiết kiệm chưa được đánh giá đầy đủ và tin cậy, công nghệ cao chưa được ứng dụng rộng rãi. Chúng ta cần xây dựng các chỉ tiêu pháp lý cho hoạt động này. Đây là lĩnh vực được đánh giá có nhiều khả năng ứng dụng kỹ thuật số, điều khiển thông minh trong cung cấp và tiêu thụ năng lượng công nghiệp, tòa nhà, dịch vụ.

 

Nhận định chung về trình độ công nghệ năng lượng

 

Hiện nay chúng ta chưa có nghiên cứu chính thức nào về đánh giá trình độ công nghệ nói chung và công nghệ năng lượng nói riêng. Tuy vậy theo ý kiến nhiều chuyên gia công nghệ năng lượng ở Việt nam còn khá lạc hậu. Trong khai thác, sản xuất, chế biến than công nghệ cũ, chậm đổi mới, giá thành khai thác cao; Công nghệ khai thác dầu - khí được đánh giá là đương đại. Công nghệ phát điện, ngoại trừ một số nhà máy lớn sử dụng công nghệ G7, còn lại các máy nhiệt điện than công nghệ từ Trung Quốc được đánh giá chỉ ở mức trung bình, hiệu suất thấp, độ tin cậy chưa cao và ô nhiễm. Các thủy điện vừa và nhỏ hầu hết công nghệ Trung Quốc được đánh giá khá lạc hậu, số lượng lớn gây hệ lụy phụ thuộc.

 

Trong tiêu thụ năng lượng công nghiệp và dân dụng được đánh giá khoảng 70% thiết bị ở mức lạc hậu, tiêu hao năng lượng lớn và ô nhiễm cao.

 

Nói chung trình độ công nghệ năng lượng ở Việt Nam, phần lớn đang ở mức Cách mạng công nghiệp lần 2, một phần nhỏ trong sản xuất điện, dầu - khí có thể ở mức Cách mạng công nghiệp lần 3, một số lĩnh vực điều khiển, kỹ thuật số có khả năng vươn lên đón bình minh CMCN 4.0.

 

Một số nhận định và kiến nghị

 

Thứ nhất: Tổ chức đánh giá trình độ công nghệ năng lượng ở các phân ngành năng lượng và đặc biệt cả công nghệ tiêu thụ năng lượng, xác định rõ được từng khâu, từng lĩnh vực có khả năng ứng dụng thành tựu kỹ thuật số, điều khiển thông minh.

 

Thứ hai: Xây dựng chiến lược, xác định nội hàm, bước đi để tiếp thu nội dung CMCN 4.0 trong năng lượng.

 

Thứ ba: Việt Nam là nước đang phát triển, tài chính hạn hẹp, cần nghiên cứu nhận dạng một số lĩnh vực có khả năng tiếp cận CMCN 4.0, không thực hiện vội vàng, kiểu phong trào, gây tốn kém, không hiệu quả.

 

Thứ tư: Việt Nam cũng có những thế mạnh với đội ngũ chuyên gia máy tính, kỹ thuật số, các nhà toán học giỏi, cần được khuyến khích đảm nhận vai trò xung kích trong CMCN 4.0.

Nguồn: Nangluongvietnam.

 

Sôi nổi Hội thao kỷ niệm 10 năm thành lập PV Power

Từ ngày 11/5 đến ngày 14/5 tại Hà Nội đã diễn ra Hội thao chào mừng kỷ niệm 10 năm thành lập Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power).

Hội thao do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh PV Power tổ chức hướng tới chào mừng kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2017) và nằm trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 10 năm thành lập Tổng Công ty.

Hội thao có sự tham gia của các vận động viên đến từ các đơn vị thành viên PV Power với 3 môn thi đấu: bóng đá, bóng bàn và tennis. Hội thao là dịp để các động viên tham gia thi đấu phát huy tinh thần đoàn kết, thi đấu trung thực, thể hiện tinh thần cao thượng, tạo nét đẹp văn hóa PV Power, cống hiến cho khán giả những trận đấu đẹp mắt.

Những hình ảnh về Hội thao kỷ niệm 10 năm thành lập PV Power:

soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Môn bóng đá diễn ra từ ngày 11/5 đến ngày 13/5
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Các đội tham gia thi đấu vòng tròn tính điểm chọn ra 4 đội vào vòng bán kết
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Sau 3 ngày tranh tài căng thẳng, kịch tính, 2 đội có mặt tại trận chung kết là đội PV Power Cà Mau (áo đỏ) và đội PV Power Services
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Niềm vui của các cầu thủ và cổ động viên PV Power Services khi vượt qua đội PV Power Cà Mau trong trận chung kết sau loạt sút luân lưu
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Kết thúc môn bóng đá, đội PV Power Services giành giải Nhất. Đội PV Power Cà Mau đạt giải Nhì, đội Cơ quan Tổng Công ty đạt giải Ba
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Môn bóng bàn diễn ra trong chiều ngày 13/5 với 2 nội dung đánh đơn và đánh đôi
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Các vận động viên chia thành các bảng thi đấu chọn ra các cặp thi đấu bán kết
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Các trận đấu diễn ra sôi nổi với nhiều pha bóng hấp dẫn
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Thành viên HĐTV PV Power Hà Đức Thu trao giải cho các vận động viên nội dung đánh đơn
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Cặp vận động viên của PV Power Cà Mau đã vượt qua cặp vận động viên PV Power Hà Tĩnh để giành giải Nhất nội dung đánh đôi
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Môn tennis diễn ra trong sáng ngày 14/5 với nội dung đôi nam
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Các đôi vận động viên được chia thành các bảng thi đấu vòng tròn chọn ra cặp thi đấu bán kết
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Các vận động viên bắt tay nhau sau khi kết thúc trận đấu
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Trận chung kết diễn ra giữa 2 cặp đôi đến từ PV Power Cà Mau và PV Machino
soi noi hoi thao ky niem 10 nam thanh lap pv power
Đôi vận động viên đến từ PV Power Cà Mau đã giành giải Nhất.

 

Theo petrotimes.vn

Tin liên quan