Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

PVTrans là nhà thầu vận chuyển than cho Nhiệt điện Duyên Hải 3

http://elitechoice-properties.com/public/topic/viagra-mit-drogen-25.pdf viagra mit drogen Sau một thời gian tìm kiếm, đánh giá đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển tải tại Việt Nam để thực hiện gói thầu 1 triệu tấn than cung ứng cho NMNĐ Duyên Hải 3, Liên danh nhà thầu Franky - Tata International JV đã tin tưởng lựa chọn Tổng công ty CP Vận tải Dầu khí (PVTrans) là đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển tải than cho Nhà máy.

ungarn viagra apotheke  

viagra kaufen ohne kreditkarte Theo phương án vận chuyển than tuyến nội địa cho các Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm phục vụ nhu cầu hiện nay cho các NMNĐ Duyên Hải, cũng như chuẩn bị sẵn sàng cho các NMNĐ Long Phú 1 và Sông Hậu 1 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, ngày 3/3/2017, PVTrans đã ký kết Hợp đồng chuyển tải than với khách hàng Tata International Singapore bằng các sà lan mặt boong trọng tải đến khoảng 10,000 DWT để cung ứng than cho NMNĐ Duyên Hải 3.

revatio sildenafil preis  

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/wirkt-kamagra-mit-alkohol-49.pdf wirkt kamagra mit alkohol Kế hoạch chuyển tải than được PVTrans xây dựng tại khu neo và vận chuyển nội địa bằng các sà lan mặt boong trọng tải đến khoảng trên 10,000 DWT được nhận từ tàu mẹ có trọng tải 50,000 - 60,000 DWT tại khu vực chuyển tải Gò Gia, Thiềng Liềng, Soài Rạp hoặc khu vực Cửa Sông Hậu về NMNĐ Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/bonbons-viagra-aussehen-aa.pdf bonbons viagra aussehen  

prix du cialis avec ordonnance Việc vận chuyển khối lượng lớn than trong thời gian ngắn khoảng từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2017 được PVTrans tính toán chi tiết, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ rất cao giữa các công đoạn đáp ứng được yêu cầu về tiến độ giải phóng tàu biển. Kế hoạch bố trí phương tiện chuyển tải hợp lý đảm bảo nhanh chóng giải phóng tàu biển, hạn chế chi phí dôi nhật phát sinh. Phương án vận chuyển được sử dụng tương tự như phương án vận chuyển áp dụng cho 2 NMNĐ Long Phú 1 và Sông Hậu 1.

effet secondaire du levitra  

le cialis ou viagra Hợp đồng ký kết với Tata International Singapore chính là mốc đánh dấu năng lực của PVTrans trong lĩnh vực phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ vận tải bên cạnh dịch vụ logistics các sản phẩm dầu khí.

 

Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực vận tải, PVTrans đã thiết lập chuỗi cung ứng than phù hợp, giải quyết các khó khăn trong việc vận chuyển than về các NMNĐ ở khu vực phía Nam và Đồng bằng Sông Cửu Long khi điều kiện vị trí địa lý có khó khăn, hạn chế trong chuỗi cung ứng, để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Nhờ đó, PVTrans được đối tác Tata International Singapore đánh giá rất cao và tin tưởng lựa chọn là doanh nghiệp nội địa số một Việt Nam có năng lực và giải pháp Logistics cung ứng than phù hợp nhất cho NMNĐ Duyên Hải 3. Phương án này thể hiện tính khả thi không chỉ cho 2 NMNĐ Long Phú 1, Sông Hậu 1 mà cũng là sử dụng cho than nhập khẩu các tàu mẹ với trọng tải lớn đến khoảng 80,000 DWT hoặc tàu trọng tải đến 30,000 DWT giảm tải để vào Cảng của NMNĐ Duyên Hải.

 

Qua đó, PVTrans cũng đã thể hiện được hình ảnh cũng như vai trò tích cực của một Đơn vị vận tải có kinh nghiệm hàng đầu Việt Nam. Góp phần thực hiện thành công kế hoạch chung của việc vận chuyển khối lượng lớn than cung cấp cho các NMNĐ tại Việt Nam, PVTrans đã và đang phát triển mạnh công tác vận tải hàng rời và các loại hình dịch vụ hàng hải để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của không những trong ngành dầu khí Việt Nam mà còn trong các ngành công nghiệp mới.

Theo Nangluongvietnam.

 

TKV - Tiêu thụ bắt nhịp theo xu hướng thị trường

 

Ngay từ những ngày đầu năm 2017, công tác tiêu thụ than của TKV đã được đẩy mạnh. Các đơn vị nỗ lực bám sát thị trường, có các phương án linh hoạt với phương châm xuyên suốt "Tiêu thụ phải bắt nhịp theo xu hướng thị trường thì kinh doanh mới có hiệu quả".

 

 

Khái quát về bức tranh tiêu thụ than năm 2016, Phó TGĐ Tập đoàn Nguyễn Văn Biên nhấn mạnh, trong năm, giá cả thị trường nói chung cũng như thị trường tiêu thụ than nói riêng biến động liên tục. Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm, xu hướng thị trường tiêu thụ than đã dần được cải thiện và có dấu hiệu phục hồi. Một số chủng loại than của Tập đoàn trước đây không tiêu thụ được thì sản lượng tiêu thụ đã tăng hơn... Có thể nói, mặc dù là một năm phải đối mặt với vô vàn những khó khăn về thị trường tiêu thụ, nhất là sự cạnh tranh gay gắt của thị trường tiêu thụ than trong nước nhưng bằng những nỗ lực cao nhất cùng các nhóm giải pháp quyết liệt từ Tập đoàn cho đến các đơn vị nên năm 2016, sản lượng tiêu thụ than của Tập đoàn vẫn đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra với con số 35,2 triệu tấn than.

 

Theo dự báo, thị trường tiêu thụ than trong năm 2017 sẽ có dấu hiệu “ấm” dần. Do đó, Tập đoàn đã xây dựng và tích cực triển khai các giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ than. Căn cứ nhu cầu thị trường, TKV xác định cụ thể sản lượng, chủng loại than giao cho từng đơn vị sản xuất, chế biến theo nguyên tắc giữ vững năng lực sản xuất, ổn định việc làm trong các dây chuyền công nghệ, thu nhập cho người lao động và hiệu quả chung cao nhất toàn Tập đoàn.

 

Đồng thời, nhận định rõ những khó khăn, thuận lợi của thị trường, Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị phải tích cực, chủ động hơn nữa trong công tác chế biến, pha trộn, tìm kiếm khách hàng... Giữ mối quan hệ tốt với khách hàng, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của khách hàng về chủng loại than và tiến độ giao hàng; tăng cường kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo chất lượng than giao cho khách hàng. Mặt khác, các công ty kho vận cần lên kế hoạch, bố trí đảm bảo đủ đầu xe cho các tuyến nhằm đẩy mạnh công tác nhận than mỏ của các công ty sản xuất, phục vụ đúng tiến độ giao than cho khách hàng, nhất là đảm bảo nguồn dự phòng than cho điện. Các đơn vị kinh doanh than trong TKV phải thường xuyên rà soát thị trường, sâu sát với khách hàng, duy trì được thị trường hiện có và mở thêm thị trường mới; chủ động và tích cực chế biến các loại than phù hợp nhu cầu sử dụng của khách hàng và có giá bán cạnh tranh để cung cấp cho khách hàng...

 

Trên thực tế, ngay trong tháng 1/2017, các công việc đã được triển khai tích cực. Tập đoàn tiếp tục hoàn thành việc ký hợp đồng mua bán than năm 2017 với các khách hàng mua than ở thị trường trong và ngoài nước, các hợp đồng bảo hiểm và vận tải than. Đẩy mạnh công tác bán hàng để tăng tối đa khối lượng hàng bán. Chuẩn bị trao đổi hợp đồng dài hạn xuất khẩu than ký kết với các khách hàng thép Nhật Bản…

 

Với những tín hiệu khả quan trong ngày đầu, tháng đầu năm mới, cùng hy vọng, TKV sẽ có một mùa than 2017 thắng lợi.

Theo Tapchithankhoangsan.

 

TKV cung cấp than dài hạn cho Marubeni

 

gevaren gebruik viagra Lễ ký hợp tác cung cấp than dài hạn giữa Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) với khách hàng Tập đoàn thép JFE/Tập đoàn Marubeni vừa được diễn ra tại Hà Nội.

Được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam và Bộ Công Thương, về việc xuất khẩu than chất lượng cao của TKV trong giai đoạn 2017-2020, TKV và Tập đoàn JFE/Marubeni đã tiến hành đàm phán, trao đổi, và thống nhất ký kết Hợp đồng cung cấp than dài hạn.

Việc ký kết Hợp đồng dài hạn này đã thắt chặt một quan hệ truyền thống và lâu dài giữa TKV với Tập đoàn thép JFE/Marubeni, giúp các bên có thể chủ động sản xuất, tiêu thụ trong dài hạn.

Thông qua việc ký kết Hợp đồng dài hạn, TKV có cơ hội được tiếp cận công nghệ, đào tạo và vay ưu đãi từ các tổ chức tín dụng Nhật Bản.

Tập đoàn thép JFE - một trong những nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới là đối tác mua than lâu năm với Vinacomin. Marubeni là một trong những Tập đoàn thương mại lớn nhất tại Nhật Bản và toàn thế giới, đã nhiều năm hợp tác với Vinacomin trong các lĩnh vực mua bán than, alumin, xây dựng nhà máy điện, cung cấp vật tư, thiết bị, đào tạo...

Theo Nangluongvietnam.

TKV chuẩn bị chủng loại than để đáp ứng nhu cầu thị trường

Tháng 3, các đơn vị tranh thủ thời tiết thuận lợi để đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ than, đảm bảo chất lượng, số lượng, chủng loại đáp ứng yêu cầu của khách hàng, giảm than tồn kho... chỉ đạo của Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) Đặng Thanh Hải tại Hội nghị giao ban trực tuyến điều hành sản xuất tháng 3/2017.

 

Theo TKV, lũy kế 2 tháng đầu năm, than nguyên khai sản xuất đạt 5,65 triệu tấn, bằng 100% so với cùng kỳ; tiêu thụ than đạt 5,15 triệu tấn, bằng 93% so cùng kỳ; trong đó tiêu thụ trong nước 5,08 triệu tấn và xuất khẩu 70.000 tấn.

 

Các lĩnh vực khoáng sản, vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí... sản xuất ổn định theo kế hoạch, riêng sản xuất alumin tăng cao so với cùng kỳ do Nhà máy Alumin Nhân Cơ mới đi vào hoạt động; sản xuất điện 1,36 tỷ kWh...

 

Tháng 3/2017, TKV phấn đầu than nguyên khai sản xuất 3,6 triệu tấn; tiêu thụ 3,5 triệu tấn, trong đó tiêu thụ nội địa 3,35 triệu tấn và xuất khẩu 150.000 tấn; đào lò 21.000m; sản xuất alumin 80.000 tấn; sản xuất điện 850 triệu kWh...

 

Theo Tổng giám đốc TKV Đặng Thanh Hải, 2 tháng đầu năm, mặc dù ảnh hưởng của nghỉ Tết nhưng sản xuất, tiêu thụ than và các lĩnh vực sản xuất khác vẫn bám sát theo kế hoạch, tiêu thụ than, alumin có dấu hiệu tốt, công tác ANTT, bảo vệ tài nguyên ranh giới mỏ đảm bảo...

 

Tổng giám đốc TKV chỉ đạo, tháng 3, các đơn vị tranh thủ thời tiết thuận lợi để đẩy mạnh sản xuất than và alumin, tập trung tiêu thụ than và alumin khi thị trường đang có nhu cầu, đảm bảo chất lượng, số lượng, chủng loại đáp ứng yêu cầu của khách hàng, giảm than tồn kho.

 

Đồng thời, nghiêm túc kiểm điểm, chấn chỉnh công tác an toàn, các đơn vị thực hiện nghiêm quy trình, quy phạm, biện pháp an toàn trong sản xuất, không để xảy ra TNLĐ và sự cố thiết bị mang tính lặp lại; ban hành quy chế khoán mới; thực hiện các nội dung, biện pháp chỉ đạo, điều hành của Tổng Giám đốc Tập đoàn nhằm hoàn thành kế hoạch SXKD tháng 3 và quý I/2017.

Theo Nangluongvietnam.

 

TKV hướng tới mục tiêu sản xuất xanh

Khai thác khoáng sản là ngành sản xuất tác động lớn đến môi trường. Do vậy, từ khi thành lập đến nay, cùng với việc đầu tư phát triển sản xuất, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) luôn quan tâm đầu tư, triển khai đồng bộ, tổng thể nhiều giải pháp bảo vệ môi trường.

 

http://viajes-machupicchu.com/layouts/pillen/kamagra-med-gutschein-eb.pdf kamagra med gutschein Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường

 

Để có nguồn vốn thực hiện các dự án, công trình môi trường, TKV đã lập Quỹ Môi trường tập trung bằng 1,0 - 1,5% chi phí sản xuất, đồng thời cho phép các đơn vị thành viên trực tiếp chi 0,5% chi phí sản xuất cho bảo vệ môi trường thường xuyên. Tổng chi phí trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường của TKV hiện nay trên 1.000 tỷ đồng/năm, chưa kể chi phí đầu tư đổi mới công nghệ kết hợp bảo vệ môi trường.

 

TKV đã ban hành các cơ chế nội bộ, tổ chức hệ thống chỉ đạo, quản lý công tác bảo vệ môi trường chuyên trách thống nhất từ Tập đoàn đến các đơn vị thành viên; thành lập các đơn vị tư vấn, thi công chuyên ngành môi trường làm lực lượng nòng cốt thực hiện công tác bảo vệ môi trường của Tập đoàn; thường xuyên mở các lớp tập huấn về môi trường cho cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác môi trường; hợp tác với nước ngoài (Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản) nghiên cứu công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực bảo vệ môi trường.

 

 

Mặc dù có nhiều khó khăn về nguồn vốn, tuy nhiên, TKV đã chủ động quy hoạch, sắp xếp lại các công trình sản xuất, đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng di dời, tháo dỡ các nhà máy (cơ khí Hòn Gai, cơ khí Cẩm Phả, tuyển than Hòn Gai), kho tàng (kho than, kho vật tư tại thành phố Hạ Long), bến cảng (Hòn Gai, Cột 5, các cảng lẻ ven bờ từ Mạo Khê đến Cẩm Phả), đường sắt (Hà Lầm - Hòn Gai, Cột 8 - Hòn Gai, Khe Sim - Ga cầu 4...) tạo điều kiện mở rộng và phát triển các đô thị, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường, cảnh quan các đô thị và khu dân cư.

 

Chú trọng công tác cải tạo phục hồi môi trường các bãi thải, đến hết năm 2016, TKV đã cải tạo phục hồi môi trường được trên 900 ha bãi thải (Nam Đèo Nai, Nam Lộ Phong - Hà Tu, Vỉa 7-8 Hà Tu, Chính Bắc Núi Béo, Ngã Hai Quang Hanh...). Từ đó, tiếp tục cải tạo phục hồi môi trường các khu vực khác nhằm cải thiện môi trường, cảnh quan chung, nhất là các khu vực nhìn được từ quốc lộ 18A, 18B. Đối với các bãi thải đang hoạt động, thực hiện đổ thải tầng thấp theo đúng thiết kế để ngăn ngừa nguy cơ sạt lở bãi thải, giảm phát sinh bụi, giảm chi phí cải tạo phục hồi môi trường sau này.

 

Với việc ngăn ngừa đất đá trôi lấp, nạo vét sông suối thoát nước, TKV đã xây dựng 15 đập ngăn đất đá chân các bãi thải để chống trôi lấp đất đá, đảm bảo an toàn cho dân cư và môi trường (đập Khe Rè, Lao Cáp, suối 9.8, suối H10, Vũ Môn bãi thải Đông Cao Sơn; đập Cái Đá, Giáp Khẩu bãi thải Chính Bắc Núi Béo; đập số 1, 2 bãi thải Vỉa 7 - 8 Hà Tu; đập số 1, 2 bãi thải Ngã Hai Quang Hanh...); đang tiếp tục xây dựng các đập chắn đất đá khác theo sự phát triển của các bãi thải. Bên cạnh đó, Tập đoàn thường xuyên cải tạo, nạo vét hệ thống sông suối thoát nước ngăn ngừa đất đá tràn lấp, gây ngập lụt các khu dân cư và vùng hạ lưu.

 

Đến hết năm 2016, 50 trạm xử lý nước thải mỏ và khoáng sản đã hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành, công suất xử lý trên 100 triệu m3/năm. Cơ bản nước thải mỏ được thu gom, xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, được tái sử dụng tối đa cho sản xuất, sinh hoạt. Các nhà máy tuyển than và khoáng sản, luyện kim, nhiệt điện, xi măng được đầu tư dây chuyền xử lý nước thải đồng bộ cùng dây chuyền công nghệ, cơ bản sử dụng tuần hoàn trong nhà máy không thải ra môi trường.

 

Song song đó, TKV đã đầu tư xây dựng nhà máy xử lý chất thải nguy hại công nghiệp tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh với công suất 3000 tấn/năm, chất thải nguy hại phát sinh trong sản xuất của các đơn vị tại Quảng Ninh hiện được thu gom, xử lý tập trung đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, được thu hồi tối đa phục vụ cho sản xuất và cung cấp cho các ngành khác. Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đơn vị hiện được thu gom và thuê các công ty vệ sinh môi trường tại địa phương xử lý. Chất thải rắn sản xuất thông thường được thu gom, đổ thải đúng quy hoạch, thiết kế.

 

Các đơn vị trong Tập đoàn đã đầu tư trên 90 hệ thống phun sương dập bụi, lắp đặt lưới chắn bụi, kiên cố hóa các khu vực sàng tuyển, kho bãi; xây dựng 2 trạm rửa xe ô tô (Núi Béo, Cọc Sáu), 3 trạm rửa toa xe (Tuyển than Cửa Ông, Tuyển than Nam Cầu Trắng); thực hiện tưới nước chống bụi, phủ bạt trên các phương tiện vận chuyển và kho đống, hạn chế phát sinh bụi, ồn, góp phần cải thiện môi trường cảnh quan. Các nhà máy chế biến khoáng sản, nhiệt điện, xi măng được đầu tư dây chuyền xử lý khí thải đồng bộ cùng dây chuyền công nghệ, được kiểm soát tự động, đảm bảo tiêu chuẩn khí thải trước khi xả ra môi trường.

 

viagra och liknande preparat Đổi mới công nghệ

 

Những năm vừa qua, TKV đã đẩy mạnh áp dụng công nghệ khai thác cơ giới hoá, thủy lực hóa trong khai thác các mỏ than hầm lò, nhờ đó giảm suất tiêu hao gỗ chống lò từ 45 - 50 m3/1000 tấn than xuống 14,1 m3/1000 tấn; giảm tỷ lệ tổn thất tài nguyên từ 45 - 50% xuống 24,2%; đầu tư đổi mới thiết bị khai thác lộ thiên hiện đại, công suất lớn (máy xúc dung tích 10 m3, ô tô trọng tải 100 tấn, ô tô chạy điện, băng tải đá...) tăng năng suất, tiết kiệm nhiên liệu, hạn chế khí thải, giảm tỷ lệ tổn thất tài nguyên từ 15 - 18% xuống 5,3%; đầu tư thiết bị lọc ép bùn công suất lớn nhà máy tuyển tăng tỷ lệ thu hồi khoáng sản, sử dụng nước tuần hoàn, giảm xả thải ra môi trường; đầu tư băng tải thay thế ô tô vận chuyển than ra cảng, hạn chế phát sinh bụi, ồn, khí thải. Đầu tư hệ thống khởi động mềm cho các thiết bị để tiết kiệm điện; tận thu các loại than và khoáng sản chất lượng thấp, đầu tư các trạm tuyển nâng cấp chất lượng, xây dựng các nhà máy điện sử dụng than chất lượng thấp để tận dụng và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên.

 

Để giảm thiểu bụi, ồn ảnh hưởng đến môi trường, dân cư, TKV đã đầu tư xây dựng các tuyến đường vận chuyển chuyên dụng có tổng chiều dài trên 130 km. Vì vậy, từ năm 2008, toàn Tập đoàn đã chấm dứt vận chuyển than trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ; từ năm 2013 chỉ vận chuyển than ra cảng bằng ô tô vào ban ngày.

 

TKV đã đầu tư hiện đại hóa các cảng xuất than (Cửa Ông, KM6, Làng Khánh, Bến Cân...) kết hợp với đầu tư các tuyến băng tải thay thế ô tô vận chuyển than ra cảng (mặt bằng +56 Mạo Khê - cảng Bến Cân, mặt bằng +56 Mạo Khê - nhà máy điện Mạo Khê, kho G9 - nhà máy điện Mông Dương, Khe Chàm - kho G9, Lép Mỹ - cảng KM6...), việc vận chuyển than ra cảng hiện nay chủ yếu thực hiện bằng băng tải và đường sắt, nhờ đó giảm thiểu ảnh hưởng của quá trình vận chuyển than đến các đô thị và khu dân cư.

 

Với việc chủ động thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, trong những năm vừa qua, Tập đoàn đã từng bước khắc phục được ô nhiễm môi trường do quá trình khai thác khoáng sản trước đây để lại và xử lý, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường mới phát sinh, vì vậy chất lượng môi trường, cảnh quan các khu vực có hoạt động sản xuất của Tập đoàn và các khu vực dân cư, đô thị lân cận đã được cải thiện, nâng cao góp phần vào sự phát triển của Tập đoàn, hướng tới mục tiêu trở thành ngành sản xuất xanh, phát triển hài hòa, thân thiện với môi trường và cộng đồng.

Theo Nangluongvietnam.vn

 

Phê duyệt kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 của TKV

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm 2016 - 2020 của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Theo đó, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 5,5 - 6%/năm.

 

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam phải trở thành Tập đoàn kinh tế vững mạnh, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng tối ưu nguồn lực sẵn có, tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu như: công nghiệp than, công nghiệp khoáng sản, công nghiệp điện, công nghiệp cơ khí mỏ, công nghiệp hóa chất.

 

Cụ thể, về thăm dò than, với bể than Đông Bắc, đến hết năm 2020, hoàn thành công tác thăm dò đến mức -300 m và một số khu vực dưới mức -300 m đảm bảo đủ trữ lượng và tài nguyên tin cậy để huy động vào khai thác trong giai đoạn đến năm 2025. Với bể than sông Hồng, trước năm 2020 hoàn thành công tác thăm dò than khu Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình để phục vụ lập và thực hiện dự án thử nghiệm.

 

Đảm bảo khai thác than nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng than trong nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; phấn đấu đến năm 2020 sản lượng than thương phẩm đạt 42 triệu tấn; phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ tổn thất than khai thác bằng phương pháp hầm lò xuống khoảng 20%; tỷ lệ tổn thất than khai thác bằng phương pháp lộ thiên xuống khoảng 5%.

 

Nhập khẩu than các loại để phục vụ các ngành kinh tế trong nước (đặc biệt là than cho sản xuất điện), phấn đấu đến năm 2020 sản lượng than nhập khẩu đạt khoảng 8 - 9 triệu tấn.

 

Về công nghiệp khoáng sản, phấn đấu đến năm 2020, sản lượng một số loại khoáng sản chủ yếu như: Thiếc thỏi 600 tấn/năm, kẽm thỏi 15.000 tấn/năm, tinh quặng đồng 90.000 tấn/năm, đồng tấm 30.000 tấn/năm, tinh quặng sắt 4.655 ngàn tấn/năm; phôi thép 200.000 tấn/năm, vàng 1.300 kg/năm, Alumin 1.250 ngàn tấn/năm, FeroChrome 10.000 tấn/năm.

 

Về công nghiệp điện, TKV phấn đấu đến năm 2020 đưa vào vận hành các nhà máy điện (nhiệt điện than, thủy điện) với tổng công suất lắp đặt đạt 2.275 MW, tổng sản lượng đạt 10.250 triệu kWh, chiếm khoảng trên 4 - 5% tổng sản lượng điện toàn quốc.

 

Về công nghiệp hóa chất, TKV sẽ đổi mới công nghệ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để cung ứng vật liệu nổ công nghiệp, dịch vụ khoan nổ mìn đáp ứng nhu cầu cho sản xuất than, khoáng sản và nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước; sản xuất nitratamon và các sản phẩm hóa chất khác; tìm kiếm thị trường để tiến tới xuất khẩu.

 

Về công nghiệp cơ khí, sẽ nâng cao năng lực sản xuất của các nhà máy cơ khí trong Tập đoàn nhằm đáp ứng nhu cầu sửa chữa, chế tạo và cung cấp thiết bị, phụ tùng phục vụ cho sản xuất và từng bước vươn ra thị trường ngoài ngành, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, vươn lên giữ vai trò tổng thầu chế tạo, lắp đặt các nhà máy, công trình quan trọng trong và ngoài TKV.

Theo Nangluongvietnam.vn

 

Tin liên quan