Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Chuẩn bị cấp phép cho ba dự án nhiệt điện than mới

revatio sildenafil preis  

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/wirkt-kamagra-mit-alkohol-49.pdf wirkt kamagra mit alkohol gevaren gebruik viagra Trong cuộc trả lời phỏng vấn mới đây với hãng tin Reuters, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết: Ba dự án nhiệt điện than của các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc và Arab Saudi có tổng công suất 3.720 MW, với số vốn đầu tư lên tới 7,5 tỷ USD sẽ được cấp phép trước khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới thăm Nhật Bản vào tháng 6 tới đây. (Tuy nhiên, ông Dũng không nói rõ những dự án cụ thể nào và vị trí xây dựng ở đâu).

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/bonbons-viagra-aussehen-aa.pdf bonbons viagra aussehen Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, Công ty Teakwang Power Holdings (Hàn Quốc) và ACWA Power (Arab Saudi) sẽ đầu tư 2,07 tỷ USD cho nhà máy điện với công suất 1.200 MW. Mỗi nhà đầu tư sẽ giữ 50% cổ phần của nhà máy và dự kiến đi vào vận hành thương mại vào năm 2021.

prendre du viagra occasionnellement Với Công ty Marubeni (Nhật Bản) và Korea Electric Power sẽ đầu tư 2,79 tỷ USD vào một dự án nhà máy điện công suất 1.200 MW khác, dự kiến đi vào hoạt động vào năm 2021. Hai nhà đầu tư cũng sẽ nắm giữ một nửa cổ phần của dự án.

alternative du viagra Tập đoàn Sumitomo của Nhật Bản sẽ đầu tư khoảng 2,64 tỷ USD cho dự án nhà máy điện có công suất 1.320 MW, và sẽ hoạt động vào năm 2022. Dự án này dự kiến sẽ được cấp giấy phép vào cuối năm nay.

acheter levitra ligne Theo Nangluongvietnam.

Australia là quốc gia cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam

Theo thống kê của Coal Information, các quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu than lớn trên thế giới (bao gồm Australia, Indonesia, Liên bang Nga, Mỹ, Nam Phi, Nam Mỹ, Canada, Trung Quốc và Phần Lan (IEA, 2012). Australia hiện cũng là nước cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam thời gian qua... Thông tin tại Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017 cho biết.

 

Theo thống kê của Coal Information, các quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu than lớn trên thế giới (bao gồm Australia, Indonesia, Liên bang Nga, Mỹ, Nam Phi, Nam Mỹ, Canada, Trung Quốc và Phần Lan (IEA, 2012). Australia hiện cũng là nước cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam thời gian qua... Thông tin tại Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017 cho biết.

 

http://viajes-machupicchu.com/layouts/pillen/kamagra-med-gutschein-eb.pdf kamagra med gutschein Than nhập khẩu tăng cao cả về lượng và giá trị

 

 

Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017.

 

Tại Diễn đàn Năng lượng Việt Nam - Australia năm 2017, các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, đại biểu cho chuỗi cung ứng năng lượng của Australia chia sẻ với đối tác phía Việt Nam về kinh nghiệm và công nghệ mới nhất trong ngành năng lượng.

 

Báo cáo tham luận tại Diễn đàn cho biết: Để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam đang chuyển đổi từ nước xuất khẩu năng lượng sang nhập khẩu năng lượng. Nếu như trước đây, Việt Nam từng xuất khẩu than lớn với đợt cao điểm lên đến 20 triệu tấn/năm, thì từ năm 2016 Việt Nam đã nhập khẩu gần 10 triệu tấn than. Dự kiến, Việt Nam cũng sẽ phải nhập khẩu 17 triệu tấn than, chiếm khoảng 31% nhu cầu than cho phát điện vào năm 2020 và tăng mạnh hơn vào những năm sau đó. Đồng thời, Việt Nam cũng xem xét tăng cường nhập khẩu điện từ các nước láng giềng.

 

Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa cho rằng, những thế mạnh của Australia trong lĩnh vực than, khí, với các công nghệ mới phù hợp với nhu cầu của Việt Nam nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Vì vậy, tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực năng lượng giữa hai quốc gia là rất lớn.

 

Theo bà Thoa, trong 15 năm trở lại đây, mức tăng trưởng điện năng thương mại đã liên tục tăng cao và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Nhu cầu điện năng cũng tăng nhanh với mức 13% trong giai đoạn 2006-2010 và 11% trong 5 năm gần đây. Dự kiến, ít nhất trong 10 năm nữa, nhu cầu điện năng sẽ tăng trưởng trên dưới 10%.

 

Bà Janelle Casey, Tham tán Thương mại tại Việt Nam cho biết, Australia có giải pháp hoàn chỉnh và tiên tiến cho chuỗi cung ứng than. Công nghệ khai thác than ở Australia ngày càng được cải tiến và ứng dụng công nghệ cao. Sự cải tiến liên tục về công nghệ khai thác mỏ, về sức khoẻ nghề nghiệp, sự an toàn và hiệu suất môi trường bảo đảm rằng Australia là một nhà sản xuất than nhiệt cũng như than cho luyện kim chất lượng cao cho thị trường quốc tế.

Theo Nangluongvietnam.

 

Tổ máy 1 Nhiệt điện Thái Bình 1 hòa lưới điện quốc gia

Vào lúc 18h00 ngày 23/5/2017, tổ máy số 1 Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 đã phát điện hòa lưới thành công vào hệ thống điện quốc gia. Đây là mốc tiến độ có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng của công trình. 

 

Dự án nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư, Tổng Công ty Phát điện 3 (EVNGENCO 3) là đơn vị thực hiện Tư vấn Quản lý dự án với đại điện chịu trách nhiệm quản lý dự án là Ban QLDA Nhiệt điện Thái Bình.

 

Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 được chính thức khởi công vào ngày 22/02/2015, có tổng mức đầu tư là trên 26,5 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) là 85%, còn lại 15% vốn đối ứng của EVN.

 

Nhà máy gồm 2 tổ máy với tổng công suất 600 MW (2x300 MW). Sau khi đưa vào vận hành thương mại, nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 sẽ cung cấp cho hệ thống điện quốc gia sản lượng điện hằng năm là 3,276 tỷ kWh.

 

Việc Nhà máy đi vào hoạt động có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa của tỉnh Thái Bình và một số tỉnh lân cận của đồng bằng Bắc Bộ, cũng như bổ sung thêm nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia.

Theo Nangluongvietnam.

 

Quản lý ngành Than theo thị trường, hay kế hoạch hóa tập trung?

Để tồn tại và phát triển bền vững, ngành Than cần tập trung siết chặt quản lý, đầu tư theo chiều sâu, xây dựng mỏ mới; nâng cao năng suất, chất lượng; cắt giảm chi phí, cạnh tranh thắng lợi với than ngoại và các đối thủ khác. Cần xác định rõ vai trò của ngành Than trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia để hoạt động theo cơ chế nhất quán (nếu đã theo thị trường phải tuân thủ các quy luật thị trường, chỉ định hướng bằng chính sách). Cạnh tranh công bằng sẽ giúp ngành Than thoát khỏi tình trạng yếu kém hiện nay và tiếp tục phát triển.

 

viagra och liknande preparat Thực trạng

 

Gần đây, trong dư luận có nhiều luồng thông tin khác nhau về thực trạng ngành Than. Trong khi nhu cầu sử dụng than trong nước liên tục tăng và tăng cao trong 1 đến 2 năm gần đây, sản lượng than sản xuất trong nước lại tụt dần sau “đỉnh cao” 45 triệu tấn vào năm 2011 và “giậm chân tại chỗ” ở mức 40 triệu tấn trong mấy năm qua.

 

Sản lượng than thấp, kéo theo suy giảm GDP, làm giảm nhiều việc làm, thu nhập của thợ mỏ, ảnh hưởng sự ổn định kinh tế - xã hội vùng mỏ Quảng Ninh; giảm sự đóng góp của ngành Than cho nền kinh tế.

 

Hiện nay, giá bán than sản xuất trong nước cao hơn giá than nhập khẩu, gây ra một nghịch lý chưa từng có trong lịch sử ngành Than. Chỉ tính riêng năm 2016, đã có hơn 12 triệu tấn than từ In-đô-nê-xi-a, Ô-xtrây-li-a, Nga, Trung Quốc, do 52 công ty đưa về Việt Nam, giá trị kim ngạch khoảng 760 triệu USD; trong khi than sản xuất trong nước tồn trong các kho bãi khoảng 12 triệu tấn. Đã hết quý I năm nay, nhưng tình trạng này vẫn chưa được cải thiện.

 

Một nghịch lý khác, các mỏ than lộ thiên nhiều năm được coi là thế mạnh của ngành Than với giá thành thấp hơn nhiều so các mỏ than hầm lò thì hiện nay tình cảnh đã lật ngược. Giá thành một tấn than lộ thiên năm 2016 lên đến 1,5 đến 1,7 triệu đồng, trong khi than hầm lò chỉ khoảng 1,1 đến 1,3 triệu đồng.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng buồn nêu trên của ngành Than, trong đó, có cả lỗi chủ quan của ngành Than và khách quan từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

 

Ngành Than hiện nay gồm: Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc. Trong một thời gian dài, quản lý chi phí, bao gồm cả đầu vào, đầu ra và quá trình sản xuất sản phẩm còn hạn chế. Hiện nay, ngành Than đang trong quá trình tái cơ cấu, hy vọng vấn đề này sẽ sớm được cải thiện.

 

Ở phía các cơ quan nhà nước, dường như thiếu sự nhất quán trong quản lý đối với ngành Than trong mấy năm vừa qua, để xảy ra tình trạng "nửa nạc, nửa mỡ", thị trường không ra thị trường, kế hoạch hoá tập trung không ra kế hoạch hóa tập trung.

 

Từ khi thành lập Tổng công ty Than Việt Nam, ngành Than được giao nhiệm vụ bảo đảm đủ than cho nền kinh tế, bao gồm cả than sản xuất trong nước và nhập khẩu. Các doanh nghiệp sử dụng than cần ký hợp đồng dài hạn với TKV về cung ứng than. Những năm trước 2010-2011, than bán cho các nhà máy nhiệt điện theo giá chỉ đạo của Nhà nước, thường thấp hơn giá bán cho các hộ sử dụng khác và chỉ bằng 60 đến 70% giá thành, đến năm 2010 mới tiệm cận giá thành; TKV phải bù lỗ từ lãi xuất khẩu than.

 

Chính vì lẽ đó, các hộ sử dụng than lớn trong nước, cả đầu tư nước ngoài sau này đều đưa ra yêu cầu TKV ký hợp đồng dài hạn cho cả đời dự án của họ. Từ năm 2015, khi than thế giới dư thừa, Bộ Công Thương “mở cửa” với than ngoại nhưng lại “đóng chặt cửa” đối với than nội, mặc cho TKV nhiều lần khẩn khoản xin phép xuất khẩu than vùng Vàng Danh, Uông Bí (chất bốc thấp, lưu huỳnh cao nhưng có bạn hàng quen thuộc nước ngoài muốn mua). Một số đơn vị sử dụng than tự động rời bỏ TKV, quay sang mua than nhập khẩu vì giá rẻ hơn. Tuy nhiên, đây chính là phá bỏ hợp đồng, lợi trước mắt nhưng hại về sau vì chẳng có nhà nhập khẩu nào cam kết cung cấp than dài hạn như TKV.

 

http://ratskeller-waren.de/styles/blog/mögliche-nebenwirkungen-von-viagra-fa.html mögliche nebenwirkungen von viagra Những bất cập cần tháo gỡ

 

Hiện nay, các loại thuế, phí đánh trực tiếp vào giá thành than khoảng 15 đến 16% (bao gồm thuế tài nguyên, thuế đất, thuế môi trường, phí môi trường, quyền cấp phép khai thác than...), cao hơn khoảng 5 đến 6% so với các nước đang xuất khẩu than vào Việt Nam, trong khi thuế suất thuế nhập khẩu than lại được ưu ái ở mức 0%. Nếu mức thuế, phí của than trong nước là 10% như các nước khác và thuế nhập khẩu than bằng 5% chẳng hạn, đã không có 12 triệu tấn than từ nước ngoài được nhập vào nước ta trong năm 2016.

 

Và, nếu ngành Than quản lý chi phí tốt hơn, sẽ có lãi cao chứ không ở mức thấp như năm qua. Việc thực thi những quy định không hợp lý và sự chậm chạp trong việc cấp phép thăm dò, khai thác than cũng góp phần làm gia tăng giá thành sản xuất than.

 

Ngay sau khi thành lập Tổng công ty Than Việt Nam cuối năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo giao vốn, giao tài nguyên, trữ lượng than cho Tổng công ty và năm 1995, Bộ trưởng Công nghiệp nặng (thời đó, Cục Địa chất - Khoáng sản trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng) đã ban hành quyết định giao tài nguyên, trữ lượng than cho Tổng công ty Than Việt Nam để chủ động thăm dò, khai thác và bảo vệ; Tổng công ty bàn giao ranh giới cho các mỏ than quản lý. Nhờ vậy, Tổng công ty đã chủ động điều chỉnh ranh giới mỏ, chủ động thăm dò (sâu xuống đáy tầng than ở một số nơi), đồng thời mở rộng, đầu tư các mỏ mới.

 

Có thể nói, quyết định giao tài nguyên than cho một chủ thể là Tổng công ty Than Việt Nam đã tạo ra động lực to lớn, giúp đột phá gia tăng nhanh sản lượng than từ 6 triệu tấn năm 1994 lên 42 triệu tấn năm 2009 (tăng bảy lần). Năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, TKV khai thác than không có giấy phép, yêu cầu xin cấp phép lại cho từng mỏ để phù hợp Luật Khoáng sản (ra đời sau quyết định về giao tài nguyên, trữ lượng than nêu trên). Không thuyết phục được Bộ Tài nguyên và Môi trường, TKV phải báo cáo và Thủ tướng Chính phủ chính thức chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép chung cho công ty mẹ TKV cùng với giấy phép cấp cho các công ty con. Tuy nhiên, chỉ đạo này đến nay vẫn chưa được Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết.

 

Nhiều năm qua, than trái phép (than thổ phỉ) vẫn là vấn nạn, một trong nhiều nguyên nhân làm tăng giá thành than. Than ăn cắp, than khai thác trái phép được đưa đi tiêu thụ nhờ tự phát hành hay mua hóa đơn, nhờ không bị truy nguồn gốc xuất xứ hàng hóa. Suy cho cùng, chỉ có TKV, Tổng công ty Đông Bắc và một số công ty nhỏ lẻ có mỏ than, nhưng hóa đơn bán than thì "trăm hoa đua nở".

 

Sự thiếu thống nhất trong quản lý nhà nước ở các địa phương cũng là nguyên nhân khiến nỗ lực ngăn chặn, triệt phá than thổ phỉ trở nên “đầu voi đuôi chuột”. Đơn cử, mỗi khi tỉnh Quảng Ninh ra quân dẹp bỏ bến bãi than trái phép, phía bên kia sông, trên đất Hải Dương và Hải Phòng, lại mọc ra thêm các bến bãi chứa than trái phép công khai hoạt động.

 

Để tháo gỡ bất cập, “cởi trói” cho ngành Than, xin kiến nghị một số vấn đề chính.

 

Trước hết và quan trọng nhất, ngành Than cần kiến nghị Chính phủ xác định lại cho rõ vai trò của ngành đối với việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia để hoạt động theo một cơ chế nhất quán: Đã kế hoạch hóa tập trung thì kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn, đã theo thị trường thì phải tuân thủ các quy luật của thị trường, chỉ định hướng bằng chính sách, không can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính.

 

Căn cứ các quy định luật pháp hiện hành, người viết bài này kiến nghị cho phép ngành Than được hoạt động theo cơ chế thị trường, có nhập khẩu, có xuất khẩu trên cơ sở tự chịu trách nhiệm về hiệu quả; tự vay đầu tư, tự trả nợ. TKV và Tổng công ty Đông Bắc không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc cung cấp đủ than cho nền kinh tế, chỉ chịu trách nhiệm trước khách hàng về hợp đồng đã ký. Các nhà sử dụng than lớn (nhiệt điện, xi-măng...) cũng như nhỏ được tự do lựa chọn nhà cung cấp than và tự chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình cả trước mắt lẫn lâu dài.

 

Nhà nước xem xét điều chỉnh thuế và phí (cả thuế, phí đánh vào than sản xuất trong nước lẫn thuế nhập khẩu than) sao cho phù hợp thị trường, không cao hơn các nước sản xuất than khác trên thế giới, tạo thế cho ngành Than cạnh tranh bình đẳng với than nhập khẩu và gia tăng sản lượng than trong các năm sau. Cần điều chỉnh, sửa đổi Luật Khoáng sản trên cơ sở xem xét kỹ các ý kiến tham vấn của Bộ Công Thương, Hội Khoa học - Công nghệ mỏ Việt Nam, các doanh nghiệp liên quan, để tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp mỏ hiện đại, hiệu quả. Cần cấp phép một lần cho chủ mỏ với quyền thăm dò và khai thác sâu đến đáy tầng than; bãi bỏ điều khoản phạt do tăng sản lượng khai thác hằng năm so với thiết kế.

 

Cũng xin kiến nghị Chính phủ hết sức thận trọng khi quyết định cổ phần hóa hay rút bớt vốn nhà nước tại các công ty than. Ngày 6-4-2016, Chính phủ có văn bản đồng ý bán theo lô đến 65% tổng vốn nhà nước theo hình thức thỏa thuận với bên mua Thai Group (Công ty Xuân Thành trước đây) tại Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc (thuộc TKV), khi tổng công ty này đang quản lý, khai thác ba mỏ: Na Dương, Khánh Hòa và Núi Hồng đang cấp than cho hai nhà máy nhiệt điện Na Dương và Cao Ngạn. Nếu chỉ tính vốn nhà nước trên sổ sách hiện tại của Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc thì quá ít, cái bên mua hướng tới chính là nhiều triệu tấn than đã được TKV thăm dò chi tiết đang nằm dưới lòng đất, nhưng chưa có quy định để tính vào giá trị doanh nghiệp. Đó mới thật sự là giá trị, tài sản lớn của quốc gia, cần được xem xét tính vào giá trị doanh nghiệp.

 

Bài học của LB Nga trước đây, khi Tổng thống En-xin bán rẻ một số mỏ than cho tư nhân, một thời gian sau, Tổng thống Pu-tin phải mua lại các mỏ theo giá thị trường để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Theo Nangluongvietnam.

 

Khi tro bay xỉ than nhiệt điện vẫn còn là tâm điểm dư luận

Câu chuyện xung quanh việc tro bay xỉ than nhà máy nhiệt điện than gây ô nhiễm, bức xúc trong nhân dân diễn ra gần đây, một lần nữa đưa vấn đề xử lý, tận dụng hiệu quả tro bay xỉ than của các nhà máy nhiệt điện thành tâm điểm của dư luận. Thực tế, tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện có thể là nguyên liệu đầu vào rất tốt cho sản xuất các loại vật liệu xây dựng như: sản xuất gạch không nung, bê tông nhẹ, làm tấm trần, tường thạch cao, gốm sứ rất hiệu quả, đặc biệt là phụ gia cho sản xuất xi măng.

 

Theo các tài liệu khoa học, trong quá trình đốt cháy than để sản xuất điện, khoảng 20% chất vô cơ không cháy và cả lượng than chưa cháy hết bị dính vón thành các hạt lớn và rơi xuống đáy lò gọi là xỉ than hay tro đáy và 80% chất vô cơ không cháy còn lại sẽ bay theo khói lò thoát ra ngoài thành tro bay với khối lượng hàng triệu tấn mỗi năm. Tro bay xỉ than thường được thu hồi bằng hệ thống lọc bụi tĩnh điện.

 

Hiện cả nước có 18 nhà máy nhiệt điện than đang hoạt động sử dụng nguồn than trong nước khoảng 20 triệu tấn mỗi năm, và theo một ước tính, các nhà máy này thải ra trên ba triệu tấn xỉ than hàng năm, bên cạnh một lượng tro bay lớn gấp vài ba lần.

 

Theo Quy hoạch điện VII, các nhà máy nhiệt điện chuẩn bị đưa vào vận hành sắp tới sẽ sử dụng tối đa nguồn than khai thác trong nước, bên cạnh nguồn than nhập khẩu. Theo quy hoạch này, để sản xuất được 156 tỷ kWh điện mỗi năm vào năm 2020 (tổng công suất nhiệt điện than khoảng 36.000 MW) thì phải tiêu thụ hơn 67 triệu tấn than và đến năm 2030 khi tổng công suất nhiệt điện than tăng lên 75.000 MW thì phải cần đến 171 triệu tấn than. Điều đó đồng nghĩa với lượng xỉ than tro đáy lên đến 14 triệu tấn mỗi năm vào năm 2020, và gần 35 triệu tấn tro đáy hàng năm vào năm 2030, cùng hàng chục triệu tấn tro bay.

 

http://elitechoice-properties.com/public/topic/viagra-mit-drogen-25.pdf viagra mit drogen Đã có giải pháp

 

Tro bay xỉ than của các nhà máy nhiệt điện có thể làm phụ gia trong sản xuất xi măng, bê tông. Ngoài ra, tro bay xỉ than còn được sử dụng để làm chất liên kết gia cố các công trình giao thông, sản xuất gạch không nung, bê tông nhẹ, làm tấm trần, tường thạch cao, gốm sứ rất hiệu quả với tổng mức tiêu thụ có thể lên đến hàng chục triệu tấn/năm.

 

Trên thế giới, các quốc gia phát triển luôn khuyến khích sử dụng tro bay xỉ than từ nhà máy nhiệt điện trong xây dựng đường xá và đôi khi là điều kiện bắt buộc. Đơn cử như tại Pháp có đến 99% lượng tro bay xỉ than thải ra được tái sử dụng, tại Nhật Bản, con số này là 80%, tại Hàn Quốc là 85%.

 

Ở nhiều nước khác, tro bay xỉ than chủ yếu được sử dụng để sản xuất gạch không nung. Sản xuất gạch từ nguyên liệu này tiết kiệm năng lượng đến hơn 85% so với việc sản xuất gạch nung truyền thống từ đất sét.

 

Chẳng hạn, tại Mỹ, tro bay xỉ than được sử dụng như một chất phụ gia sản xuất xi măng, hoặc dùng làm vật liệu san lấp mặt bằng hay gia cố nền đường sau khi đã xử lý.

 

Mới đây, công ty SEFA ở South Carolina đã quyết định xây dựng một nhà máy tái chế 400.000 tấn tro bay xỉ than mỗi năm thành pozzolan làm nguyên liệu sản xuất bê tông. Trong khi đó, ở Ấn Độ, hiện có đến hơn 16.000 nhà máy sản xuất gạch từ tro bay xỉ than, giúp tái chế hơn 20 triệu tấn tro bay xỉ than hàng năm và cung cấp hơn 1/6 nhu cầu về gạch của thị trường Ấn Độ.

 

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái chế tro bay xỉ than làm phụ gia cho công nghệ bê tông đầm lăn, sản xuất gạch tuynel, xi măng, thạch cao, than tái chế và cũng đã được áp dụng vào sản xuất. Điển hình như dây chuyền sản xuất gạch không nung với công suất 3 triệu viên/năm của Công ty Nhiệt điện Cao Ngạn, hay ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn sử dụng phụ gia tro bay xỉ than (RCC) trong xây dựng đập thuỷ điện, đã được áp dụng cho các công trình đập thuỷ điện, trước tiên là thuỷ điện Sơn La. Công ty Sông Đà 12 cũng đã đầu tư xây dựng xưởng sản xuất phụ gia bê tông từ tro bay Nhiệt điện Phả Lại bằng phương pháp tuyển tĩnh điện, trong khi Công ty cổ phần Hải Sơn đã đầu tư xây dựng xưởng sản xuất phụ gia bê tông bằng phương pháp đốt trong lò tuynel.

 

ungarn viagra apotheke Chung tay hành động

 

Chính phủ đã ban hành quyết định số 121/2008/QĐ-TTg, phê duyệt tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến 2020. Tong đó yêu cầu vật liệu không nung đến 2020 phải chiếm từ 30 - 40% tổng số vật liệu xây dựng trong cả nước, và đây là một tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển vật liệu không nung sử dụng tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện chạy than trong các năm tới.

 

Hơn nữa, nhu cầu sử dụng tro bay và tro đáy làm nguyên vật liệu cho các công trình xây dựng, sản xuất xi măng, bê tông, như đã đề cập ở trên là khá lớn. Chẳng hạn, một nhà máy sản xuất xi măng cỡ vừa như xi măng Kansai Ninh Bình có công suất 1,4 triệu tấn/năm, có thể sử dụng khoảng 280.000 tấn phụ gia/năm.

 

Như vậy, với tổng công suất của các nhà máy xi măng ở Việt Nam khoảng 75 triệu tấn thì nhu cầu tro tuyển dùng làm phụ gia là rất lớn, có thể lên đến 14 triệu tấn tro bay xỉ than.

 

Rõ ràng là đầu ra đối với tro đáy và tro bay đã có, vấn đề còn lại là sự quyết tâm vào cuộc của các cơ quan nhà nước và sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp.

 

Theo kết quả điều tra đánh giá nguồn tro bay xỉ than và các giải pháp sử dụng của Trung tâm Xi măng, Viện VLXD (Bộ Xây dựng) được xây dựng trên cơ sở của Quy hoạch điện VII, khối lượng tro bay xỉ thải trong năm 2015 khoảng 12,8 triệu tấn, đến năm 2020 khoảng 25,4 triệu tấn và đến năm 2030 khoảng trên 30 triệu tấn. Với khối lượng thể tích của xỉ là 0,8 tấn/m3, bãi chứa xỉ có độ sâu trung bình 2m thì trong năm 2015, nhu cầu của diện tích bãi chứa mỗi năm là 127,4 ha và sẽ còn tăng nhiều hơn nữa theo Quy hoạch điện VII (nếu không có giải pháp sử dụng ngay từ bây giờ).

 

Vào cuối tháng 9/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1696/QĐ-TTg về một số giải pháp thực hiện xử lý tro, xỉ, thạch cao của nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất phân bón để làm nguyên liệu sản xuất VLXD, đến năm 2020, chỉ cấp diện tích bãi thải cho các dự án nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón với dung lượng chứa tối đa cho 2 năm sản xuất tương đương với quy mô, công suất của dự án.

 

Bên cạnh đó, QĐ 1696 cũng đưa ra 7 giải pháp thực hiện quyết định này. Trong đó, quy định thiết kế cơ sở các dự án nhiệt điện, hóa chất phải hoàn chỉnh đến khâu xử lý tro, xỉ, thạch cao và phương án thu hồi, xử lý các chất thải này. Đặc biệt, quyết định cũng nêu rõ, chủ đầu tư các nhà máy nhiệt điện, hóa chất phải có trách nhiệm trả chi phí xử lý tro, xỉ, thạch cao trong trường hợp không tự đầu tư dây chuyền thiết bị xử lý chất thải cho sản xuất VLXD.

 

Như vậy, Chính phủ đã có những giải pháp quyết liệt hơn trong việc xử lý tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện, hóa chất. Và kỳ vọng chúng ta có thể sử dụng các loại phế phẩm này làm phụ gia cho sản xuất các loại VLXD để không phải đi nhập phế phẩm từ các nước khác trên thế giới và đặc biệt không phải khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt là có cơ sở.

 

Còn chừng nào chúng ta chưa có giải pháp triệt để, hiệu quả, biến tro bay xỉ than từ các nhà máy nhiệt điện thành vật liệu kinh tế hữu hiệu thì vấn đề tâm điểm dư luận về môi trường nhiệt điện than là điều khó tránh khỏi.

Nguồn: Nangluongvietnam.

 

ĐƯA CÔNG NGHIỆP ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ LÀ 1 TRONG 5 LĨNH VỰC CỐT LÕI CỦA PVN

Đây là ý kiến phát biểu của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại lễ kỷ niệm 10 năm ngày thành lập (17/5/2007- https://www.viagrapascherfr.com/viagra-naturel-femme-gel/ 17/5/2017) của Tổng Công ty Điện lực Dầu khí (PV Power), đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).

Vinh danh những lao động tiêu biểu xuất sắc của PV Power

Báo cáo của PV Power cho thấy, trong chặng đường 10 năm xây dựng, phát triển, mặc dù bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự đoàn kết, nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên, người lao động của PV Power đã từng bước trưởng thành, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Tập đoàn PVN giao phó; trở thành doanh nghiệp sản xuất điện lớn thứ 2 sau Tập đoàn Điện lực Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc sản xuất cung cấp điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội đất nước cũng như đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Tính đến nay, PV Power  đang quản lý 8 nhà máy điện đa loại hình từ nhiệt điện khí, thủy điện, điện than với tổng công suất đặt là 4.208MW, chiếm 12% tổng công suất nguồn của cả nước, tăng 5,6 lần so với thời điểm năm 2007. Hàng năm cũng cấp cho hệ thống điện quốc gia trên 21 tỷ kWh, chiếm 13% tổng sản lượng toàn hệ thống. Đặc biệt, PV Power là đơn vị sản xuất điện khí lớn nhất của đất nước với quy mô công suất các nhà máy đạt 2.700MW.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phát biểu

Phát biểu tại buổi Lễ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng ghi nhận, đánh giá cao những kết quả mà PV Power đạt được trong thập kỷ vừa qua. Đồng thời mong muốn PVN và PV Power cần tập trung huy động mọi nguồn lực để thực hiện đúng tiến độ, chất lượng các dự án nhiệt điện đang triển khai, đảm bảo tăng cường nguồn cho hệ thống điện quốc gia; Tiếp tục quản lý vận hành hiệu quả các nhà máy điện; nghiên cứu các dự án mới cho giai đoạn tiếp theo; đẩy mạnh tái cơ cấu để phát triển bền vững, trở thành đơn vị nòng cốt của Tập đoàn và đưa công nghiệp điện lực dầu khí là 1 trong 5 lĩnh vực cốt lõi của PVN.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cùng các lãnh đạo của PVN, PV Power

Được biết, PV Power được thành lập theo định hướng phát triển của PVN theo hướng đa dạng hóa ngành nghề sản phẩm lĩnh vực dầu khí, năng lượng, trong đó sản xuất kinh doanh điện năng là một trong 5 lĩnh vực hoạt động cốt lõi của Tập đoàn. PV Power thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính là SXKD điện năng, tham gia xây dựng phát triển các nguồn điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nguồn bài viết: Công Thương
Tác giả Đình Dũng

Tin liên quan