Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

TKV nỗ lực giảm tổn thất than khai thác

revatio sildenafil preis Trong khai thác, nhất là khai thác than hầm lò, giảm tổn thất, tiết kiệm tài nguyên luôn là vấn đề quan trọng của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Trong những năm gần đây, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, toàn Tập đoàn đã có nhiều cố gắng trong việc giảm tổn thất than khai thác.

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/wirkt-kamagra-mit-alkohol-49.pdf wirkt kamagra mit alkohol  

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/bonbons-viagra-aussehen-aa.pdf bonbons viagra aussehen Bước tiến trong cơ giới hóa

 

Theo thống kê của TKV, trước đây, tình trạng tổn thất than trong khai thác các mỏ hầm lò có thời điểm lên tới 40 - 50%. Thậm chí có những mỏ cao hơn vì điều kiện địa chất phức tạp không thể khai thác được. Nguyên nhân chủ yếu do hiệu quả khai thác không cao, hơn nữa việc lựa chọn công nghệ khai thác chưa phù hợp. Trước thực trạng này, Tập đoàn đã chỉ đạo các đơn vị sắp xếp lại sản xuất, nghiên cứu áp dụng các giải pháp kỹ thuật và lựa chọn công nghệ phù hợp với các mỏ để hạn chế tối đa tổn thất trong quá trình khai thác.

 

Về vấn đề này, Trưởng ban Kỹ thuật Công nghệ mỏ TKV (KCM) Phạm Văn Hòa cho biết, trong thiết kế kỹ thuật khai thác hầm lò, có những tổn thất do không thể khai thác được, liên quan chủ yếu đến điều kiện địa chất, đó là các phần vỉa mỏng, các khu vực có địa chất phức tạp, phay phá bị vò nhàu trong quá trình dịch chuyển... Các khu vực đó khó có thể khai thác trong điều kiện kỹ thuật còn lạc hậu. Nó chỉ có thể được khai thác triệt để khi có các công nghệ tiên tiến hiện đại. Như ở một số nước tiên tiến có những máy khấu robot thay thế hoàn toàn con người mới có thể khai thác được các vỉa mỏng dưới 0,5 mét, vỉa có cấu tạo địa chất phức tạp, nhưng giá thành khai thác sẽ cao hơn nhiều lần các công nghệ truyền thống.

 

tkv no luc giam ton that than khai thac
Đẩy mạnh cơ giới hóa là giải pháp quan trọng giúp TKV giảm tổn thất trong khai thác than

 

Mấu chốt trong việc giảm tổn thất khai thác vẫn là khâu kỹ thuật công nghệ. Do đó, đi đôi với tăng cường công tác quản trị tài nguyên, kể từ năm 2000 đến nay, Tập đoàn đã có bước chuyển biến tích cực trong việc đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ cơ giới hóa khai thác, trong đó ở các mỏ lộ thiên đã tăng cường áp dụng dây chuyền thiết bị đồng bộ, gồm các thiết bị khoan, xúc bốc, vận tải theo hướng công suất lớn và thủy lực hóa. Ðối với các mỏ hầm lò, mức độ cơ giới hóa trong các khâu đào, chống lò, khai thác, vận chuyển than đã không ngừng được nâng cao, đầu tư bằng nhiều thiết bị máy móc hiện đại. Do vậy, mức độ tổn thất than ở các mỏ lộ thiên đã giảm còn 6%, hầm lò giảm dưới 30%, đồng nghĩa với việc TKV đã tận thu thêm khoảng 15 triệu tấn than.

 

Triển khai nhiều giải pháp

 

Từ nay đến năm 2020, nhằm tiếp tục phấn đấu giảm tỷ lệ tổn thất than khai thác xuống dưới 5% trong khai thác lộ thiên và dưới 24% trong khai thác hầm lò. Tập đoàn TKV chỉ đạo các đơn vị loại bỏ đất đá, tạp chất ngay trong lò nhằm nâng cao chất lượng than trong khai thác. Rà soát xác định hệ số bóc đất hợp lý đối với các mỏ lộ thiên; đồng thời đẩy mạnh áp dụng công nghệ mới phù hợp nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, trong đó đặc biệt là cơ giới hóa các khâu xúc bốc và vận tải mỏ. Xác định đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ là nhiệm vụ trọng tâm nhằm hạ giá thành khai thác, đồng thời làm tốt công tác quản lý, tiết kiệm tài nguyên ngay trong kỹ thuật cơ bản khai thác, hiện nay, đa phần các đơn vị đã áp dụng công nghệ tuyển nước cho phép bóc tách nhiều chủng loại than từ than nguyên khai ra các loại than chất lượng cao.

 

Nhờ áp dụng công nghệ hiện đại trong khai thác than hầm lò cũng như lộ thiên, tỷ lệ tổn thất than trong khai thác đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, việc tổ chức khai thác than với tỷ lệ tổn thất thấp luôn là một thách thức không nhỏ đối với ngay cả các nước có công nghệ khai thác tiên tiến.

 

Song song với đổi mới công nghệ, TKV cũng chỉ đạo các đơn vị tiết kiệm tài nguyên trong khâu sàng tuyển, chế biến, quản lý tiêu thụ như: Các đơn vị sàng tuyển, chế biến từng bước hiện đại hóa các công nghệ sàng tuyển, phân chia nhiều chủng loại than theo yêu cầu của thị trường cũng như tiết kiệm tối đa các loại xít thải trong sàng tuyển. TKV đưa ra nhiều giải pháp quyết liệt để bảo vệ; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn thất thoát than trong quá trình khai thác, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ than trái phép trên địa bàn.

 

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thăm dò

 

Bên cạnh việc hiện đại hóa trong khai thác, công tác tư vấn, thiết kế được xem là yếu tố rất quan trọng. Theo ông Phạm Văn Hòa, thiết kế hệ thống mở vỉa, khai thác luôn có sự liên hệ chặt chẽ với các công nghệ khai thác và quá trình áp dụng các tiến bộ kỹ thuật khác. Đặc biệt là việc thăm dò huy động tài nguyên luôn là nhiệm vụ đi đầu, mang tính chất quyết định để có thể khai thác triệt để các vỉa than, ngay cả đối với các vỉa mỏng hay điều kiện địa chất phức tạp. Do vậy, hiện nay, các đơn vị thăm dò địa chất cũng được Tập đoàn chỉ đạo công tác thăm dò địa chất với các tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn.

 

TKV chỉ đạo các các đơn vị thực hiện nhiệm vụ thăm dò khoáng sản gồm: Công ty Địa chất mỏ, Công ty Cổ phần Địa chất Việt Bắc rà soát triển khai việc thực hiện quyết toán tài nguyên, có đánh giá hiện trạng khoáng sàng làm cơ sở xây dựng kế hoạch cho giai đoạn trung và dài hạn. Tiếp tục đẩy mạnh công tác khoan thăm dò dưới mức -300 tại các tầng than -300 đến -500, huy động trữ lượng công nghiệp để đưa vào kế hoạch khai thác trong những năm tới theo hướng chi tiết hơn. Trước mắt, giai đoạn đầu sẽ triển khai cho các khoáng sàng điển hình và đặc trưng nhất là Núi Béo, Khe Chàm III, Khe Chàm II-IV...

 

Các công ty tư vấn, thiết kế thực hiện nhiều cơ chế tích cực để từng bước chuyên nghiệp hóa đội ngũ tư vấn thiết kế các công trình khai thác than, đặc biệt là khai thác hầm lò đảm bảo chất lượng; tiếp tục đẩy mạnh việc đào tạo nâng cao trình độ tư vấn thiết kế cho đội ngũ chủ nhiệm đề án; tổ chức đánh giá sát hạch đội ngũ chủ nhiệm các đề án để giao việc đảm bảo đúng người, đúng việc; tiếp tục rà soát lại lực lượng kỹ sư tư vấn, thiết kế, đánh giá năng lực cán bộ, xây dựng kế hoạch đào tạo tuyển dụng mới nhất là những ngành nghề đang thiếu và yếu…

 

Minh Châu

Theo Petrovietnam.vn

 

Ngành than giải bài toán tồn kho

Từ đầu năm đến nay, hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, việc tiêu thụ đang gặp khó khăn, lượng than tồn đọng rất lớn, tới 9,3 triệu tấn.

Phát triển ổn định

Trong 6 tháng đầu năm 2017, TKV đã sản xuất được 19,87 triệu tấn than, đạt 55,2% kế hoạch năm, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2016. Doanh thu toàn Tập đoàn ước khoảng 53.358 tỉ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ. Nộp ngân sách Nhà nước 6.300 tỉ đồng, trong đó nộp ngân sách 5.400 tỉ đồng, bằng 50% kế hoạch và 102% so với cùng kỳ năm 2016.

Một tin vui nữa, đó là dự án sản xuất alumin tại Lâm Đồng đã bắt đầu có lãi 50 tỉ đồng trong 6 tháng đầu năm 2017, sau 3 năm liền bị lỗ. Những kết quả đó cho thấy, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của TKV đã có nhiều khởi sắc. Theo ông Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch HĐTV TKV, kết quả trên là sự cố gắng nỗ lực từ Tập đoàn đến các đơn vị thành viên với nhiều nhóm giải pháp đồng bộ và quyết liệt như: tăng cường công tác quản lý, quản trị chi phí, quản lý vật tư; quyết liệt trong tiết giảm chi phí; chú trọng đầu tư cơ giới hóa; đồng thời thực hiện, sắp xếp tinh giản lao động, siết chặt công tác tuyển dụng lao động nhằm nâng cao năng suất.

nganh than giai bai toan ton kho
Than tồn kho đã vượt mức 9 triệu tấn

Trong 2 năm qua, TKV đã tiết giảm được 11.360 người. Tổng số lao động toàn Tập đoàn theo danh sách đến thời điểm 30-6-2017 chỉ còn 108.800 người. Trong đó, có thể kể đến một số đơn vị làm tốt việc sắp xếp tinh giảm lao động, điển hình như: Công ty Than Hòn Gai, Công ty Than Nam Mẫu, Công ty Xây dựng mỏ hầm lò II, Công ty Tuyển than Cửa Ông...

Cùng với tiết giảm lao động, công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy tổ chức trong toàn Tập đoàn cũng được triển khai bài bản. Kết quả về cơ bản, cơ cấu tổ chức phòng, ban, phân xưởng của các đơn vị xây dựng mỏ, sản xuất than, sàng tuyển, kho vận và cơ khí đã theo đúng mô hình mẫu Tập đoàn quy định. Hệ thống các phòng, ban chức năng của các công ty con đã được sắp xếp tương ứng với các ban của Tập đoàn, đảm bảo sự thống nhất của hệ thống ngành dọc...

Còn nhiều khó khăn

Mặc dù đã có khởi sắc so với năm 2016, tuy nhiên, vấn đề than tồn kho vẫn là một khó khăn, trở ngại lớn với TKV. Ông Đặng Thanh Hải, Tổng giám đốc TKV, cho biết: Than sạch tồn kho của Tập đoàn hiện ở mức 9,3 triệu tấn, giảm gần 3 triệu tấn so với lượng tồn 12 triệu tấn cuối năm 2016, nhưng vẫn ở mức cao. Số tồn kho nêu trên chủ yếu là than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện, khi tháng 5-2017, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có văn bản đề nghị giảm lượng than mua xuống còn 17,92 triệu tấn, giảm 2 triệu tấn so với kế hoạch. Lãnh đạo TKV cho biết, mức tồn than 9,3 triệu tấn của ngành than đã vượt qua định mức 1-2 triệu tấn. Nếu con số này tăng lên nữa thì cân đối tài chính của Tập đoàn sẽ rất khó khăn.

Theo ông Hải, với 2 triệu tấn than EVN đề nghị giảm, cộng thêm 2 triệu tấn sản xuất tăng để đảm bảo tăng trưởng GDP 6,7% năm nay theo chỉ đạo của Chính phủ, tổng mức tồn kho của Tập đoàn sẽ trên 13 triệu tấn. Lo ngại hơn, việc giảm mua than chắc chắn sẽ khiến hàng nghìn lao động của Tập đoàn mất việc làm. Nếu tính theo năng suất lao động bình quân của TKV năm 2016 là 521 tấn/người/năm thì khoảng 4.000 người lao động sẽ mất việc làm, gây ảnh hưởng xấu đến an sinh xã hội trên địa bàn và nộp ngân sách Nhà nước.

Chưa kể trong khi lượng than tồn lớn như thế, nhưng giá thành sản xuất than vẫn tăng do khai thác ngày càng xuống sâu và xa hơn, suất đầu tư, chính sách thuế, phí, tiền lương tăng. Ước tính, mức tăng chi phí của TKV lên đến gần 10.000 tỉ đồng... Chính bởi những khó khăn đó nên tại buổi làm việc với Tổ công tác của Chính phủ ngày 19-6 vừa qua, lãnh đạo TKV đã kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam không giảm mua than trong năm nay để ngành than ổn định sản xuất, góp phần sản xuất tăng thêm 2 triệu tấn nữa, đóng góp vào tăng GDP chung của cả nước.

Nguyễn Kiên

Theo Petrovietnam.vn

Thực hiện nghiêm quy định về điều chỉnh giá điện

Cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân lần này là một bước tiến phù hợp với Luật Ðiện lực hiện hành (quy định giá bán lẻ điện do đơn vị bán lẻ điện xây dựng) và kỳ vọng sẽ góp phần quản lý giá điện "có lên, có xuống", công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường. Với cơ chế quản lý giá điện mới, EVN có quyền tự quyết cao hơn, nhưng cũng đòi hỏi ngành điện cần thực hiện nghiêm quy định về điều chỉnh giá điện...

 

Theo Quyết định 24/2017/QÐ-TTg ngày 30-6-2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân (thay thế Quyết định 69/2013/QÐ-TTg), khi các thông số đầu vào biến động làm giá bán điện bình quân giảm so với giá bán điện hiện hành và trong khung giá quy định, Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN) có trách nhiệm giảm giá bán điện bình quân ở mức tương ứng, lập hồ sơ báo cáo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để kiểm tra, giám sát.

 

Tương tự, khi giá bán điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 3% đến dưới 5%, EVN được tự quyết định ở mức tương ứng, với thời gian điều chỉnh tối thiểu sáu tháng, lập hồ sơ báo cáo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để kiểm tra, giám sát. Khi cần điều chỉnh tăng giá điện bình quân từ 5% đến dưới 10%, EVN cũng được phép điều chỉnh ở mức tương ứng, sau khi báo cáo và được Bộ Công Thương chấp thuận, trả lời bằng văn bản.

 

Chỉ khi cần điều chỉnh tăng từ 10% trở lên so với giá bán điện bình quân hiện hành, hoặc điều chỉnh ngoài khung giá quy định gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế vĩ mô, trên cơ sở hồ sơ phương án giá điện do EVN trình, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính kiểm tra, rà soát (nếu cần thiết thì báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá) trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến.

 

Cơ chế mới cũng yêu cầu công khai, minh bạch các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và các khoản chi phí sản xuất, kinh doanh điện (gồm chi phí thực tế các khâu phát điện, truyền tải điện, phân phối - bán lẻ điện, quản lý chung, dịch vụ phụ trợ hệ thống điện và các chi phí khác; kết quả kinh doanh lỗ, lãi của EVN; các chi phí được tính vào giá thành sản xuất, kinh doanh điện…).

 

Tăng giá điện là tăng lợi ích và tạo động lực cho ngành điện mở rộng đầu tư. Với mức tăng bình quân từ 12% đến 14% phụ tải điện hiện nay, điện năng thật sự là một thị trường hấp dẫn để xã hội hóa đầu tư và đẩy nhanh lộ trình phát điện cạnh tranh như là cách thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu và nâng cao hiệu quả phát triển ngành điện.

 

Quy trình thực hiện cơ chế thị trường cũng đòi hỏi tự do hóa cạnh tranh cung ứng trước khi tự do hóa giá cả. Việc thiếu kiểm soát và giám sát giá cả của một doanh nghiệp, tập đoàn kinh doanh có tính độc quyền cao dễ biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp và biến lợi ích nhà nước thành lợi ích nhóm, cá nhân.

 

Ðiện lực có vai trò quan trọng, vừa trực tiếp phục vụ đời sống của người dân, vừa là yếu tố và chi phí "đầu vào" ảnh hưởng đến giá cả của nhiều mặt hàng khác. Việc EVN được quyền tăng giá từ 3 đến 5% trở lên dù thời gian giữa hai lần tăng giá tối thiểu là sáu tháng, sẽ khiến giá điện ngày càng được "điều chỉnh" linh hoạt hơn. Bởi vậy, bất cứ sự tăng giá nào của ngành điện đều cần phải được cân nhắc một cách có trách nhiệm và đánh giá kỹ tác động cộng hưởng trực tiếp và gián tiếp của nó tới mặt bằng giá, động lực tăng trưởng kinh tế và sự đồng thuận xã hội, cả vĩ mô, lẫn vi mô, trước mắt và lâu dài.

 

Theo cơ chế mới, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính kiểm tra chi phí sản xuất, kinh doanh điện của năm trước liền kề. Bởi vậy, công luận đòi hỏi nếu phát hiện có sai sót trong kết quả tính toán và điều chỉnh giá điện, cần bắt lỗi không chỉ đơn vị và cá nhân trực tiếp có lỗi, mà còn cả đơn vị và cá nhân chủ quản cấp trên và cơ quan giám sát liên quan.

 

Hơn nữa, không chỉ xử lý theo quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn, mà còn cần xử lý cả theo kỷ luật Ðảng và Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và Luật Phòng, chống tham nhũng, cũng như Luật Hình sự và các luật định khác có liên quan, tạo sự răn đe nghiêm khắc cần thiết.

 

Cơ chế mới là một bước tiến phù hợp với Luật Ðiện lực hiện hành (quy định giá bán lẻ điện do đơn vị bán lẻ điện xây dựng) và kỳ vọng sẽ góp phần quản lý giá điện "có lên có xuống", công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường.

 

Với cơ chế quản lý giá điện mới này, trao cho EVN quyền tự quyết cao hơn, nhưng cũng đòi hỏi ngành điện cần thực hiện nghiêm quy định về điều chỉnh giá điện, không lạm dụng trong việc đề xuất tăng giá điện và chỉ duy trì xu hướng một chiều này…!

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Theo Nangluongvietnam.

 

6 nhóm giải pháp bảo vệ môi trường của ngành than

Mới đây, UBND tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức hội nghị thảo luận và cho ý kiến về đề án bảo đảm môi trường cấp bách của ngành than trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. Trong đó, ngành than đã đưa ra 6 nhóm giải pháp quan trọng nhằm bảo vệ môi trường.

Bảo vệ môi trường ở mức cao nhất

Cụ thể, đề án bảo đảm môi trường cấp bách ngành than trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng Công ty Đông Bắc chủ trì xây dựng nhằm lựa chọn, đưa ra các giải pháp, dự án, công trình cấp bách cụ thể sớm khắc phục ngay những tác động tiêu cực do hoạt động khai thác than làm ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân trên địa bàn.

6 nhom giai phap bao ve moi truong cua nganh than
Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Quảng Ninh

Mục tiêu cụ thể của đề án nhằm xác định rõ danh mục các công trình cấp bách, kế hoạch và lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2017-2020 để bảo đảm an toàn cho dân cư, giảm tác động đến môi trường đô thị, đặc biệt là trong mùa mưa bão. Đề án cũng đưa ra 6 nhóm giải pháp cụ thể bảo đảm môi trường ngành than giai đoạn 2016-2020 bao gồm: ngăn ngừa sạt lở, trôi lấp đất đá, cải tạo phục hồi môi trường; nạo vét, củng cố hệ thống thoát nước; di dời dân cư khỏi các khu vực nguy hiểm; xử lý nước thải và nước bề mặt; xử lý chất thải nguy hại và chất thải rắn thông thường; giảm thiểu bụi, ồn, khí thải.

Trong đó, TKV đề xuất năm 2017 sẽ triển khai cải tạo phục hồi môi trường khoảng 190ha các bãi thải: Chính Bắc Núi Béo, Đông Cao Sơn, Hà Ráng; ưu tiên đổ thải kết thúc các khu vực bãi thải nhìn được từ Quốc lộ 18A (khu vực Mông Dương bãi thải Đông Cao Sơn dự kiến đến hết năm 2020; khu vực Giáp Khẩu và Đông Nam bãi thải Chính Bắc Núi Béo dự kiến hết năm 2018…). Tiếp tục đầu tư xây dựng các tuyến băng tải để đến năm 2020 cơ bản than được vận chuyển ra cảng và các nhà máy điện bằng băng tải; xây dựng cầu vượt nút giao cắt đường Bàng Nâu - Khe Dây với Quốc lộ 18A…

TKV và Tổng Công ty Đông Bắc dùng chung hệ thống băng tải

Tại hội nghị, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Đặng Huy Hậu yêu cầu TKV và Tổng Công ty Đông Bắc thống nhất phương án dùng chung hệ thống vận chuyển bằng băng tải để tránh lãng phí, giảm bụi phát tán ra môi trường, đảm bảo đời sống nhân dân. Đồng thời, đề nghị TKV cần chú ý vấn đề hạ cao độ bãi thải ngành than, bảo đảm đúng quy trình hoàn nguyên môi trường.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến tham gia cũng đề xuất TKV cần tăng cường nạo vét các đập để tạo nguồn nước; tăng cường các trạm quan trắc, lựa chọn loại cây trồng phù hợp để phủ xanh bãi thải; khẩn trương di dời dân cư ra khỏi khu vực nguy hiểm để đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho nhân dân, nhất là khi mùa mưa bão đã tới…

Ngoài ra, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh yêu cầu ngành than cần có phương án xây dựng các hồ lắng tại các suối, giảm thiểu bồi lắng xuống cuối nguồn, bảo đảm môi trường khu vực hạ lưu; nâng mức độ xử lý chất lượng nước thải tại các trạm để xử lý thành nước sinh hoạt, thân thiện với môi trường và tránh lãng phí; bổ sung các giải pháp chống bụi, tập trung phun, tưới nước tại các khai trường, trên các tuyến đường vận chuyển nội bộ...

Nguyễn Kiên

Theo Petrotimes.vn

Nhu cầu than cho điện của thế giới đã thay đổi thế nào?

Kể từ năm 2000, Trung Quốc cùng với một số quốc gia phát triển khác đã tiêu thụ quá nhiều than bằng việc xây dựng hàng loạt các nhà máy nhiệt điện với tốc độ chóng mặt. Than trở thành một trong những động lực thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng 2 con số và giúp hàng triệu người dân khu vực nông thôn thoát khỏi cảnh đói nghèo.

 

Tuy nhiên, than lại là một trong những nhân tố khiến lượng khí các carbon trong không khí ngày càng tăng. Nếu tình trạng sử dụng than quá mức vẫn tiếp diễn, mục tiêu cắt giảm khí phát thải nhà kính toàn cầu khó lòng có thể đạt được.

 

Điều đáng mừng là lượng tiêu thụ than ở các nước đang có chiều hướng giảm.

 

Dữ liệu thường niên về tình hình sử dụng năng lượng trên thế giới cho thấy nhu cầu tiêu thụ than đã giảm 2 năm liền.

 

Tại Mỹ và các một số nước châu Âu lần đầu tiên thực hiện phong trào ngày "không sử dụng than" kể từ thời kỳ Cách mạng Công nghiệp. Đặc biệt, Trung Quốc đã có những bước tiến lớn trong việc giảm phụ thuộc vào than khi nhu cầu tiêu thụ đã giảm 3 năm liên tiếp và chính phủ nước này đang có ý định tiếp tục thắt chặt hơn nữa việc sử dụng năng lượng này.

 

Hoạt động sản xuất ở các nhà máy nhiệt điện than giảm khoảng 19%. Trên thực tế, tính trên phạm vi toàn cầu thì năm ngoái, số lượng nhà máy nhiệt điện than mới bắt đầu đi vào hoạt động ít hơn số nhà máy đang bị "đóng băng".

 

Số lượng nhà máy mới đã giảm tới 62%. Trong khi đó, đặc biệt ở Mỹ và châu Âu, trong vòng 2 năm qua, nhiều nhà máy nhiệt điện với tổng công suất là 64 GW đã ngừng hoạt động.

 

Ở Trung Quốc, số lượng các nhà máy nhiệt điện giảm mạnh là do hàng loạt các chính sách của chính phủ đưa ra nhằm hạn chế việc sử dụng than như thu hồi giấy phép xây dựng nhà máy nhiệt điện tại 13 tỉnh, xây dựng kế hoạch đóng cửa nhà máy nhiệt điện than đã quá cũ, tuyên bố kế hoạch 13 năm cắt giảm 1.100 GW từ điện than...

 

Những chính sách hạn chế than này tuy chưa được hoàn tất và còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn khiến số lượng nhà máy nhiệt điện mới được chính phủ chấp thuận giảm tới 85% trong năm 2016.

 

Trong khi đó, sản lượng của các nhà máy điện Ấn Độ lại đang phục hồi, tăng gấp 3 lần từ 71.121 MW năm 2007 lên mức 211.562 MW năm 2017.

 

Theo Dự thảo Kế hoạch Năng lượng Quốc gia của chính phủ Ấn Độ tháng 12/2016 cho thấy chính phủ nước này "không muốn tăng sản lượng các nhà máy nhiệt điện vượt quá mức hiện tại, ít nhất là cho đến năm 2027".

 

Thay vào đó, chính phủ Ấn Độ mong muốn xây dựng hệ thống năng lượng tái tạo 215 GW đến năm 2025 và nguồn năng lượng này sẽ ngày càng rẻ hơn.

 

Trong tương lai, trọng tâm ngành than dường như sẽ chuyển hướng sang các thị trường ngoài Trung Quốc và Ấn Độ như Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, và Việt Nam. Chính phủ các nước này đã cam kết mở rộng ngành than nhưng họ lại phải đối mặt với làn sóng phản đối ở trong nước và chi phí sản xuất năng lượng tái tạo đang hạ xuống.

 

NGUỒN: NDH/CNBC

Theo Nangluongvietnam.

 

Điện than: "Việt Nam cần phát triển đúng hướng"

Trước câu hỏi của Tạp chí Năng lượng Việt Nam về xu hướng phát triển của nhiệt điện than trên thế giới và Việt Nam, ông Wouter Wersch - Tổng Giám đốc General Electric (GE) khu vực ASEAN cho rằng: Điện than tiếp tục là nguồn năng lượng quan trọng, có thể trở thành một nguồn năng lượng sạch, giá cả phải chăng và ổn định nếu sử dụng đúng công nghệ tốt. Tại Việt Nam, tôi cho rằng một cơ cấu năng lượng cân bằng là điều quan trọng nhất, điện than vẫn cần được phát triển đúng hướng với các công nghệ hiện đại song song với việc phát triển các nguồn năng lượng khác.

 

GE luôn cho rằng Việt Nam là thị trường tiềm năng, nhưng điều đó có khác với việc Việt Nam có cơ hội tạo dựng được một hệ sinh thái?

 

gevaren gebruik viagra Wouter Wersch: Đúng vậy. Việt Nam đang có rất nhiều cơ hội để tạo dựng một hệ sinh thái năng lượng, thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như phát điện, dầu khí hay truyền tải. Mục tiêu của chúng tôi có thể điều phối và kết hợp tất cả các thứ liên quan trong hệ sinh thái năng lượng, để từ đó đưa ra các giải phải pháp toàn cầu. Tất nhiên, để làm được điều này, đầu tiên phải có công nghệ tốt.

 

Với góc nhìn đó, GE đã mua lại công ty Alstom và với việc mua công ty này chúng tôi đã sở hữu công nghệ hàng đầu liên quan đến tua bin hơi và lò đốt. Vì thế, chúng tôi đã có giải pháp nâng cấp 360 độ có thể tích hợp nâng cấp tất cả các máy điện thay vì cấu phần 1. Qua đó có thể đảm bảo sẽ có thể nâng cao hiệu suất cho các nhà máy khi nâng cấp bao gồm cả cái thành tố liên quan đến thiết bị và công nghệ số nâng cao hiệu suất lên được 1% là cả với điện than và điện khí.

 

Ông có nhận xét gì về xu hướng phát triển của nhiệt điện than trên thế giới, và Việt Nam có nằm trong xu hướng này không?

 

http://viajes-machupicchu.com/layouts/pillen/kamagra-med-gutschein-eb.pdf kamagra med gutschein Wouter Wersch: Hiện nay trên thế giới, điện than vẫn chiếm khoảng 40% và thời gian tới xu thế chung là cơ cấu điện than sẽ giảm đi nhưng sẽ vẫn chiếm hơn 30% toàn bộ cơ cấu phát điện trên thế giới. Vì thế, chúng tôi vẫn nghĩ rằng, than vẫn sẽ là nguồn năng lượng quan trọng. Đặc biệt là để đạt được mục tiêu đảm bảo một hệ thống điện, ổn định và bền vững.

 

Tổng đầu tư vào điện mỗi năm, tốc độ phát triển khoảng 300 GW thì 12% trong số đó vẫn là điện than. Trong 12% này, có khoảng 95% đầu tư vào điện than này sẽ được đầu tư tại châu Á, như Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia khác. Vì thế, theo chúng tôi, điện than tiếp tục là nguồn năng lượng quan trọng và hoàn toàn có thể trở thành một nguồn năng lượng sạch, giá cả phải chăng và ổn định nếu sử dụng đúng công nghệ tốt. Tại Việt Nam, tôi cho rằng một cơ cấu năng lượng cân bằng là điều quan trọng nhất, điện than vẫn cần được phát triển đúng hướng với các công nghệ hiện đại song song với việc phát triển các nguồn năng lượng khác.

 

Trong bối cảnh đầu tư mới gặp khó về tài chính, ông có khuyến cáo gì cho các khách hàng Việt Nam?

 

viagra och liknande preparat Wouter Wersch: Với năng lượng tái tạo, với quy mô lớn hơn thì chi phí đầu tư đã giảm đi rất nhiều và ở nhiều quốc gia trên thế giới, năng lượng tái tạo có chi phí hoàn toàn có thể cạnh tranh được với các nguồn năng lượng truyền thống. Vì thế năng lượng tái tạo sẽ không ảnh hưởng đến giá điện của người tiêu dùng.

 

Với điện than, hiệu suất trung bình trên thế giới hiện nay là khoảng 33%; khi áp dụng những công nghệ hiện đại nhất như công nghiệp siêu tới hạn (UCS), hiệu suất có thể đạt được lên đến 43 - 44%, thậm chí là cao hơn, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của mỗi quốc gia. Với cùng một lượng nhiên liệu, chúng ta có thể làm ra nhiều điện năng hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho người dân và nền kinh tế. Cạnh đó, khi hiệu suất tốt hơn, chi phí điện sẽ dần giảm đi. Nguyên lý đấy hoàn toàn áp dụng trong lĩnh vực điện than.

 

Ở đây công nghệ liên tục được nâng cấp và cải thiện. Những nhà máy được lắp đặt từ 10-20 năm trước thì chắc chắn hiệu suất không thể đạt được như các nhà máy công nghệ mới. Tuy nhiên, GE cũng có thể giúp nâng cấp cơ sở sẵn có này với chi phí hợp lý. Việc nâng cấp này có thể giúp các nhà máy cũ nâng cao được hiệu suất lên khoảng 10%.

 

Chúng ta cũng có thể có một lựa chọn nữa, không phải đầu tư mới hoàn toàn. Ví dụ, một nhà máy điện khí, có thể thay tua bin cũ bằng một tua bin mới, cũng sẽ giúp nâng cao được hiệu suất, đồng thời đảm bảo được mục tiêu môi trường.

 

Như vậy, với điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc tạo dựng được một hệ sinh thái năng lượng ổn định là không dễ dàng?

 

http://ratskeller-waren.de/styles/blog/mögliche-nebenwirkungen-von-viagra-fa.html mögliche nebenwirkungen von viagra Wouter Wersch: Việt Nam hoàn toàn có thể tạo dựng được một hệ sinh thái năng lượng tốt và ổn định. Nhưng muốn vậy, Việt Nam phải có một cơ cấu bao gồm cả điện khí, điện than và năng lượng tái tạo. Chính sách của Việt Nam phải đảm bảo cho kết cấu này phát triển ổn định và bền vững với chi phí vừa phải. Chẳng hạn, với năng lượng tái tạo, một yếu tố quan trọng là phải có hợp đồng thu mua điện như vậy mới thu hút được các nhà đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo. Hợp đồng thu mua điện hiện hành gây hạn chế cho việc nâng cấp và không có ưu đãi cho chủ đầu tư khi họ tự nâng cấp nhà máy của mình.

 

GE sẽ làm gì để cùng Việt Nam tạo ra một hệ sinh thái năng lượng đó?

 

http://elitechoice-properties.com/public/topic/viagra-mit-drogen-25.pdf viagra mit drogen Wouter Wersch: GE không chỉ là chuyên gia trong từng khía cạnh của hệ sinh thái mà còn là chuyên gia trong việc tích hợp những khía cạnh, tri thức này lại với nhau để đảm bảo có một hệ sinh thái năng lượng hiệu quả nhất. Với điều kiện của Việt Nam hiện nay, đầu tư tài chính để xây dựng các nhà máy mới là rất khó. Do đó, chúng tôi có thể hợp tác với các khách hàng ở Việt Nam nâng cấp các nhà máy hiện có. Đặt việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những trọng tâm hoạt động, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục hỗ trợ đào tạo, trau dồi hơn nữa kỹ năng cho đội ngũ nhân sự ở Việt Nam.

 

Về phương diện tài chính, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ các phương án tài chính bao gồm việc hình thành nguồn vốn giai đoạn đầu và tiếp cận vốn của bên thứ ba từ các cơ quan tín dụng xuất khẩu, các tổ chức tài trợ phát triển, và các tổ chức khác. Năm 2015, chúng tôi đã ký hợp đồng nâng cấp 4 tổ máy tua bin khí của Nhà máy điện Phú Mỹ, đến nay đã nâng cấp xong 2 tổ, mang lại hiệu quả cao hơn cả cam kết trong hợp đồng với EVN.

 

Cảm ơn ông!

 

ungarn viagra apotheke THANH HUYỀN (THỰC HIỆN)

Theo Nangluongvietnam.

 

Tin liên quan