Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Thị trường than ASEAN và những rủi ro của Việt Nam

gevaren gebruik viagra Nhiệt điện chạy than của ASEAN

ASEAN là khu vực có tổng diện tích đất (4,46 triệu km2) chiếm khoảng 3% của thế giới, nhưng dân số (khoảng 620 triệu người) chiếm khoảng 9% của thế giới. Dự kiến đến năm 2040, dân số của ASEAN sẽ tăng lên tới 760 triệu người (trong đó, tỷ lệ dân đô thị hiện chiếm 46% sẽ tăng lên 60%) và GDP (bình quân đầu người tính theo sức mua) sẽ tăng lên gấp 3 lần.

Theo đánh giá của EIA, khu vực ASEAN đang ngày càng phát triển nhanh, đặc biệt trong lĩnh vực tiêu dùng năng lượng và phát điện. Cũng theo số liệu của IEA, trong khu vực ASEAN sẽ có khoảng 120 triệu người không biết điện là gì, trong khi hơn 270 triệu người phải dựa vào các nguồn gây ô nhiễm là củi gỗ và phân để đun nấu và sưởi ấm. Vì vậy, từ năm 2013 đến năm 2030 nhu cầu tiêu dùng năng lượng sơ cấp của ASEAN sẽ tăng hơn 2 lần và đạt tỷ trọng ít nhất 80%. Tổng nhu cầu điện năng sẽ tăng từ 790 TWh (năm 2013) lên 2.210 TWh (năm 2040). Mức gia tăng (gấp gần 3 lần) này chủ yếu dựa vào nguồn năng lượng sơ cấp là than. Các nguồn năng lượng tái tạo cũng sẽ tăng nhưng tăng chậm hơn so với các nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) chạy than.

Cơ cấu các nguồn điện của ASEAN sẽ thay đổi đáng kể trong giai đoạn tới (xem hình 1 và 2). Theo đó, tỷ trọng nguồn điện từ than sẽ tăng từ 33% hiện nay lên 50% vào năm 2040. Tương tự nguồn năng lượng điện tái tạo tăng từ 3% lên 10%. Trong khi đó, nguồn nhiệt điện chạy khí sẽ giảm từ 44% xuống còn 26%; nguồn thủy điện giảm từ 14% xuống còn 12%.

Hình 1: Tỷ trọng các nguồn điện năm 2013 của ASEAN.

Hình 2: Tỷ trọng các nguồn điện năm 2040 của ASEAN.

Than sẽ là nguồn nhiên liệu được lựa chọn. Các nguồn vật liệu có sẵn (củi gỗ, phân) và nguồn điện rẻ tiền nhất (NMNĐ chạy than) đối với ASEAN vẫn là giải pháp an toàn nhất. Vì vậy, phần lớn các nước ASEAN đang gấp rút xây dựng các NMNĐ chạy than.

Theo chuyên gia Laszlo Varro - Trưởng phòng Thị trường khí, than và điện của Tổ chức Năng lượng Quốc tế (IEA), nhu cầu về điện của ASEAN đang tăng sẽ kéo theo tăng nhu cầu than cho phát điện. Đến năm 2040, phần lớn trong tổng số 400 GW công suất phát điện dự kiến sẽ tăng thêm ở ASEAN sẽ là các nhà máy nhiệt điện chạy than. Điều này sẽ làm tăng tỷ trọng của than trong thị trường điện của ASEAN từ 32% lên 50%, trong khi tỷ trọng của khí sẽ giảm từ gần 44% xuống còn 26%.

http://viajes-machupicchu.com/layouts/pillen/kamagra-med-gutschein-eb.pdf kamagra med gutschein Thị trường than của ASEAN

Thời gian 30 năm vừa qua, thị trường xuất khẩu than của các nước Đông Nam Á (ASEAN) với 3 nhà xuất khẩu chủ yếu là Indonesia, Malaysia và Việt Nam phát triển tương đối nhanh. Đặc biệt, khối lượng than xuất khẩu của Indonesia đã tăng mạnh.

Gần đây, thị trường nhập khẩu than của ASEAN tuy còn đang trong giai đoạn hình thành, nhưng có nhu cầu phát triển rất nhanh. Thị phần than nhập khẩu năm 2016 của ASEAN chỉ khoảng 8% (tương đương với 70 triệu tấn). Trong khi đó, chỉ riêng 5 nhà nhập khẩu than lớn nhất thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Đài Loan) đã nhập khẩu hơn 600 triệu tấn, chiếm hơn 70% khối lượng than nhập khẩu của thế giới.

Trong khối ASEAN, các nước có ngành công nghiệp than chủ yếu là Thái Lan, Malaysia, Philippines, Việt Nam và Indonesia. Mặc dù Indonesia là nước xuất khẩu than lớn nhất, nhưng nhu cầu than trong nước của Indonesia (đang ngày càng tăng lên) có ảnh hưởng đáng kể đến cân bằng cung - cầu than của châu Á và của ASEAN trong các thập kỷ tới.

Cho đến trước khi Việt Nam tham gia tích cực vào việc nhập khẩu than (năm 2015), các nền kinh tế của ASEAN có nhu cầu nhập khẩu than lớn là Thailand, Malaysia, và Philippines.

Tổng khối lượng than nhập khẩu của ASEAN (không tính Việt Nam và Indonesia) trong thời gian qua đã tăng lên tương đối nhanh, từ 49 triệu tấn (năm 2009) lên 71 triệu tấn (năm 2015). Trong đó, nguồn xuất khẩu chủ yếu từ Indonesia (chiếm 82-95%), Australia (3-14%), Nam Phi và Nga (2-5%).

Hình 3. Khối lượng và các nguồn than nhập khẩu của ASEAN, triệu tấn.

Theo dự báo của EIA, thị phần này sẽ gần như được duy trì trong tương lai gần. Trong đó, Indonesia sẽ vẫn chiếm tỷ trọng hơn 80% trong nguồn cung cấp than nhập khẩu cho các nước ASEAN vì có lợi thế rất quan trọng về cảng xuất than và dịch vụ logistic. Cung độ vận chuyển than bằng đường bộ từ các mỏ ra cảng không quá lớn (so với Australia và Nga). Điều kiện xây dựng các cảng than thuận lợi.

Tuy nhiên, do nhu cầu nhập khẩu than của Trung Quốc đang giảm nhanh, nên Australia - nước xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc, sẽ gia tăng việc bán than vào thị trường ASEAN để duy trì sản lượng khai thác của mình. Đồng thời, Trung Quốc cũng có khả năng sẽ xuất khẩu than vào các nước ASEAN.

Ngoài ra, than Nga và than Nam Phi cũng có khả năng cạnh tranh về chất lượng trên thị trường ASEAN. Vì vậy, với cước phí vận tải biển đang ở mức độ thấp như thời gian qua, việc xuất khẩu than của Indonesia sẽ ngày càng khó cạnh tranh hơn. Khối lượng than xuất khẩu của Indonesia đang có nguy cơ giảm.

Bắt đầu tư năm 2016, Việt Nam đã xuất hiện tương đối rõ nét trên bản đồ nhập khẩu than của khu vực ASEAN. Trong tương lai gần, Myanmar cũng sẽ xuất hiện như một nhà nhập khẩu than tương đối lớn.

Như vậy, trong tương lai, các nước nhập khẩu than lớn của ASEAN sẽ là Thailand, Malaysia, Philippines và Việt Nam.

Indonesia

Indonesia là quốc gia duy nhất trong ASEN có điều kiện phát triển ngành công nghiệp than tương đối thuận lợi. Với trữ lượng than (coal reserves) khoảng 32 tỷ tấn có thể khai thác bằng công nghệ lộ thiên có chi phí khá thấp, nằm không xa bờ biển, có điều kiện dịch vụ hậu cần thuận lợi, Indonesia là quốc gia sản xuất than hiệu quả nhất. Với vị trí địa lý nằm không xa các nước trong khu vực, Indonesia là nước xuất khẩu than lớn nhất thế giới (tính theo khối lượng). Năm 2014, tổng khối lượng than xuất khẩu của Indonesia đạt mức 410 triệu tấn, trong đó, than năng lượng 408 triệu tấn và than luyện coke 2 triệu tấn.

Trong khi thị trường than trong khu vực đang tăng nhanh, Indonesia là nguồn chính cung cấp than nhiệt năng trung bình và thấp cho các nước như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan nhờ có chi phí vận tải biển tương đối thấp.

Khách hàng mua than của Indonesia là các công ty phát điện. Trong đó, các công ty phát điện lớn thường mua than của Indonesia theo các hợp đồng dài hạn (long term contract) và hợp đồng hàng năm (annual contract). Các khách hàng trung bình thường mua theo hợp đồng hàng năm và hợp đồng bán lẻ (spot contract). Các khách hàng nhỏ thường mua than theo hợp đồng bán lẻ và hợp đồng trung hạn (medium term contract).

Thị trường than giao ngay (spot market) của Indonesia là thị trường sôi động nhất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng nhanh và có xu hướng giao dịch khối lượng lớn. Các khách hàng thường mua than theo nhu cầu hàng tuần, hoặc hàng ngày của mình.

Là quốc gia có sản lượng than khai thác và xuất khẩu lớn nhất trong ASEAN, nhưng nhu cầu than trong nước của Indonesia là một đại lượng tương đối bất định. Trong giai đoạn 2015 - 2020, Indonesia đặt mục tiêu tương đối thực tế là tăng trưởng GDP khoảng 6 - 7%/năm, và tăng trưởng tiêu dùng điện khoảng 8%/năm. Năm 2012, tổng nhu cầu sử dụng điện của Indonesia khoảng 174 TWh. Dự kiến đến năm 2020, tổng nhu cầu điện sẽ đạt mức 334 TWh. Indonesia có kế hoạch đầy tham vọng xây dựng 35GW công suất phát điện trong vòng 20 năm tới. Như vậy, nhu cầu than cho điện của Indonesia đang tăng lên trong thập kỷ tới.

Thái Lan

Là nước có dân số khoảng 67 triệu người, có GDP bình quân đầu người khoảng 15.580 USD/năm (tính theo sức mua), mức tiêu dùng điện bình quân đầu người khoảng 2.465 kWh/2014. Nguồn điện chủ yếu của Thailand là khí nhập khẩu, với tổng công suất lắp đặt khoảng 33 GW. Trong đó, nguồn khí mua của Myanmar chiếm khoảng 70%. Tổng công ty phát điện Thailand (EGAT) là doanh nghiệp nhà nước chiếm 45% sản lượng điện của Thailand. Hiện nay, tỷ trọng nhiệt điện dùng than chiếm khoảng 10%. Nhiều khả năng, đến năm 2020 các nguồn trữ lượng khí trong nước của Thailand sẽ hết và các nhà cung cấp chính của Thailand cũng như của Myanmar sẽ dự trữ khí cho nhu cầu của mình. Trong tương lai, công suất của các nguồn tái tạo sẽ tăng, nhưng điện từ năng lượng than sơ cấp vẫn là nguồn an toàn và ổn định. Đến năm 2030, tổng công suất các NMNĐ chạy than mới sẽ được xây dựng khoảng 4,5 GW.

Ngoài việc nhập khẩu than cho điện, Thailand cũng đang nhập khẩu than cho xi măng và cho chất đốt sinh hoạt. Tổng lượng than nhập khẩu năm 2016 của Thailand khoàng 22 triệu tấn, trong đó có 19 triệu tấn nhập từ Indonesia.

Myanmar

Theo Bộ Điện lực, tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện sẽ tăng từ 4,4 GW (năm 2014) lên 24 GW vào năm 2030 để đảm bảo cung cấp đầy đủ điện cho cả nước (năm 2014, số người dân được cung cấp điện lưới chỉ có 20%). Năm 2015, chính phủ Myanmar đã cho điều chỉnh một cách cơ bản luật mỏ của mình để thu hút đầu tư nước ngoài. Trong khi luật mỏ không mang lại kết quả như mong đợi, nhưng ngành khai thác mỏ của Myanmar hiện nay có thể cạnh tranh được với Indonesia về vốn đầu tư nước ngoài vì các chính sách hỗ trợ và bảo vệ các nhà đầu tư trong ngành mỏ của Indonesia hiện vẫn còn bị hạn chế.

Malaysia

Là quốc gia có tốc độ tăng trưởng thần kỳ bình quân 6,5%/năm trong vòng gần 50 năm (từ năm 1957 đến 2005) kể khi được độc lập. Cho đến hiện nay, với tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 6%/năm, Malaysia với Tập đoàn Dầu khí Nhà nước Petronas nổi tiếng lâu nay đang là quốc gia xuất khẩu dầu, có GDP bình quân đầu người (tính theo sức mua) đạt 24.500 USD/năm, mức tiêu dùng điện năng bình quân 4.345 kWh/người/năm 2014.

Malaysia với 30 triệu dân đang là quốc gia có trình độ phát triển cao trong khối ASEN chỉ đứng sau Singapore. Malaysia có mức tiêu dùng điện tính theo đầu người cao hơn 1,8 lần so với Thailand và cao hơn 6 lần so với Indonesia mà cũng chỉ dựa vào một doanh nghiệp có tên gọi là Tenaga Nasional Berhad (TNB) - là một trong những doanh nghiệp lớn nhất của ASEAN.

Năm 2014, sản lượng điện của Malaysia từ than chiếm 47%, từ khí chiếm 49%. Tổng công suất phát điện lắp đặt của Malaysia khoảng 25 GW, trong đó có 8 GW chạy than.

Theo dự báo của TNB, sản lượng điện từ than sẽ tăng cả về giá trị tuyệt đối và tương đối. Đến năm 2020, với giá khí như hiện nay, trong cân bằng năng lượng sơ cấp của Malaysia, tỷ trọng của than sẽ tăng tới 63%, tỷ trọng của khí sẽ giảm còn 33%. Năm 2016, Malaysia đã nhập hơn 26 triệu tấn than (70% từ Indonesia, 25% từ Australia, và 5% từ Nam Phi). Riêng TNB cũng đã nhập 23 triệu tấn than vào năm 2016. Dự kiến, tổng số than nhập khẩu của Malaysia sẽ đạt hơn 40 triệu tấn vào năm 2020.

Philippines

GDP bình quân đầu người (tính theo sức mua) của Philippines khoảng 6.975$, và mức tiêu dùng điện bình quân 670 kWh/người/năm (2014). Tuy mức độ phát triển chậm hơn so với Malaysia và Thailand, nhưng với 7.100 hòn đảo và dân số khoảng 100 triệu người (đứng thứ 12 trên thế giới) Philippines có mức độ điện khí hóa rất nhanh.

Năm 2015, tổng công suất điện của Philippines là 18,5 GW, trong đó 5963 MW là nhiệt điện than (tỷ trọng 32%). Chính phủ Philippines sẽ cho tăng tỷ trọng của nhiệt điện than lên đáng kể. Đến hết 2018, Philippines sẽ đưa thêm 10 nhà máy nhiệt điện chạy than (đang được xây dựng) vào hoạt động với tổng công suất 3,4 GW. Ngoài ra, có 25 NMNĐ chạy than với tổng công suất 12 GW đã được đưa vào kế hoạch xây dựng bổ sung.

Cũng như các nước khác, Philippines sẽ bổ sung các nguồn năng lượng tái tạo trong các thập kỷ tới. Tuy nhiên, hiện nay than vẫn là nguồn năng lượng rẻ tiền và đáng tin cậy nhất. Tổng nhu cầu than của Philippines sẽ tăng từ khoảng 20 triệu tấn hiện nay lên 35÷40 triệu tấn vào các năm 2025÷2035. Hiện nay, hàng năm khối lượng than nhập khẩu của Philippines khoảng hơn 10 triệu tấn, và khai thác trong nước khoảng 9 triệu tấn.

Như vậy, ngoài 9 triệu tấn khai thác trong nước (chủ yếu của Tổng công ty than và điện Semirara), trong tương lai gần, lượng than nhập khẩu của Philippines sẽ đạt 30 triệu tấn/năm. Nhờ vị trí địa lý gần, phần lớn than được nhập khẩu từ Indonessia. Tổng nguồn tài nguyên than dự tính của Philippines khoảng 2,4 tỷ tấn là cơ sở để nâng sản lượng than khai thác nội địa trong tương lai.

viagra och liknande preparat Kết luận

Các số liệu phân tích trên cho thấy:

1/ Nhu cầu nhập khẩu than cho điện của các nước thành viên ASEAN ngày càng gia tăng sẽ dẫn đến mức độ cạnh tranh trong nhập khẩu than ngày càng cao. Trong khi đó,

2/ Theo Quy hoạch phát triển ngành điện của Việt Nam, nhu cầu than cho điện sẽ tăng liên tục khoảng 10%/năm trong vòng 20 năm tới. Dự kiến vào năm 2030, sản lượng điện của Việt Nam đạt 572 TWh, và nhu cầu nhập khẩu than cho điện sẽ tăng từ 13 triệu tấn (năm 2016) lên khoảng 40 triệu tấn sau 10 năm nữa.

3/ Nguồn than nhập khẩu để phát điện của Việt Nam chủ yếu (50-70%) là từ Indonesia. Thị trường xuất khẩu của than Indonesia trong thời gian qua (trước khi có sự nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2013) đã phát triển rất nhanh và tương đối ổn định (“an bài”). Thị trường than nội địa cho nhiệt điện của Indonesia trong thời gian tới cũng sẽ tăng. Đây là yếu tố khách quan sẽ làm tăng thêm những rủi ro trong việc cấp than cho điện của Việt Nam. Ngoài ra,

4/ Với việc nhập khẩu (thông qua đấu thầu) vừa nhỏ, lẻ (dưới 1 triệu tấn) vừa ngắn hạn (6 - 9 tháng) như hiện nay, thực tế đã chứng minh các dự án nhiệt điện của Việt Nam chỉ có thể mua được than từ các nguồn trôi nổi (theo các hợp đồng “spot”- giao ngay) ở Indonesia. Đây là yếu tố chủ quan đang làm giảm đáng kể hiệu quả của việc nhập khẩu than cho điện.

Nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM.

TKV phấn đấu giảm than tồn kho về mức hợp lý

Thông tin từ Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, hiện nay doanh nghiệp này đang thực hiện điều hành sản xuất theo khả năng tiêu thụ để hàng tháng phấn đấu giảm tồn kho tối thiểu 500.000 tấn than các loại, nhằm cuối năm đưa tồn kho về mức hợp lý.

 

Theo số liệu thống kê của TKV, trong tháng 8/2017, Tập đoàn phấn đấu sản xuất 2,4 triệu tấn than, tiêu thụ 2,66 triệu tấn. Trong đó, trong nước tiêu thụ hơn 2,5 triệu tấn, xuất khẩu than 155.000 tấn.

 

Về công tác quản lý kỹ thuật cơ bản, TKV tập trung điều hành các chỉ tiêu kỹ thuật hệ số bóc đất, hệ số mét lò, tỷ lệ thu hồi, tổn thất than, tỷ lệ thực thu khoáng sản ít nhất đạt chỉ tiêu kế hoạch đầu năm. Đồng thời, đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hoá trong sản xuất; đẩy mạnh đào chống lò bằng vì neo bởi đây là khâu đặc biệt quan trọng quyết định tăng năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm - Công ty mẹ sẽ phải trực tiếp chỉ đạo quyết liệt hơn nữa, nhất là các đơn vị hầm lò.

 

Để hoàn thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 2017, hiện TKV đang hoàn thiện cơ chế giao khoán để các công ty con, đơn vị trực thuộc chủ động trong điều hành kế hoạch năm nhằm tăng hiệu quả của toàn tổ hợp. Tăng cường kiểm soát chặt chẽ công tác thuê ngoài chế biến đất đá lẫn than trong tất cả các khâu (nguồn đầu vào chế biến, sản phẩm sau chế biến, vận chuyển, kho bãi,...), kiểm soát chặt chẽ công tác mua bán vật tư.

 

Bên cạnh đó, TKV thực hiện việc đẩy mạnh, đa dạng hoá việc tiêu thụ sản phẩm theo nguyên tắc an toàn về tài chính và bán được sản phẩm hàng hoá; xây dựng phương án sản xuất kinh doanh 2018 và các năm tiếp theo, theo nguyên tắc sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường và cân đối tồn kho ở mức hợp lý.

 

Đặc biệt, TKV đã làm việc với các hộ sản xuất điện giải quyết dứt điểm những vướng mắc về giá báo cáo Bộ Tài chính sớm ký được hợp đồng mua bán than năm 2017 và hợp đồng dài hạn.

 

Thông tin của TKV cũng cho biết, hiện Tập đoàn đang triển khai mạnh mẽ công tác tái cơ cấu giai đoạn 2, rút kinh nghiệm trong xã hội hoá đầu tư, dịch vụ để triển khai rộng rãi nhằm chuyên môn hoá cao dịch vụ cung ứng và giảm lao động phục vụ phụ trợ. Tăng cường quản lý tài nguyên, chất lượng sản phẩm, giảm 5% tỷ lệ tổn thất trong khai thác so với tỷ lệ tổn thất thực hiện năm trước, thắt chặt nghiệm thu khối lượng mỏ và các chỉ tiêu công nghệ; hợp tác với các nhà cung cấp thiết bị đưa dây chuyền ô tô máy xúc công suất lớn tham gia vào khai thác (ô tô tối thiểu 120 tấn, máy xúc có dung tích gầu xúc tối thiểu 12 m3).

Nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM.

 

Tập đoàn kinh tế đầu tiên trong trụ cột an ninh năng lượng

Ngay sau khi nhận được các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã hoạch định mục tiêu, chiến lược để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Đến nay, sau hơn 10 năm nhìn lại, các thế hệ CBCNVC và người lao động TKV đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, về cơ bản đạt được những mục tiêu đề ra. Thực hiện tốt vai trò là một trong 3 trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia...

 

Ngày 08/8/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Than Việt Nam và Quyết định số 199/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Than Việt Nam trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Than Việt Nam và các đơn vị thành viên. Đây là một mốc son đánh dấu chặng đường phát triển mới của Tập đoàn trong mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước.

 

http://ratskeller-waren.de/styles/blog/mögliche-nebenwirkungen-von-viagra-fa.html mögliche nebenwirkungen von viagra Từ một chủ trương đúng

 

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa IX) có nêu: “Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân…”

 

Triển khai Nghị quyết này, tập đoàn kinh tế đầu tiên của nước ta là Tập đoàn Than Việt Nam (TVN) ra đời và đi vào hoạt động theo Quyết định số 199/2005/QĐ-TTg, ngày 8/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Cùng năm đó, TCT Dệt may Việt Nam cũng chuyển thành Tập đoàn Dệt may Việt Nam; TCT Bảo hiểm Việt Nam cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt. Năm 2006, TCT Bưu chính - Viễn thông Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam, TCT Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có văn bản đồng ý để TCT Thuốc lá Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Thuốc lá Việt Nam…

 

Sau khi được hình thành và đi vào hoạt động, các tập đoàn kinh tế đã tích cực đầu tư, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động; cơ cấu lại và đa dạng hóa sở hữu các đơn vị thành viên; kinh doanh đa ngành, trong đó tập trung vào ngành nghề chính; huy động được các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu trọng điểm, các chiến lược phát triển quan trọng…

 

http://elitechoice-properties.com/public/topic/viagra-mit-drogen-25.pdf viagra mit drogen Tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên

 

 

HĐQT Than Việt Nam tại Lễ ra mắt Tập đoàn Than Việt Nam.

 

Ngày 08/8/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Than Việt Nam và Quyết định số 199/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Than Việt Nam trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Than Việt Nam và các đơn vị thành viên (Tổng Công ty Than Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 563/TTg ngày 10/10/1994 của Thủ tướng Chính phủ).

 

Theo đề án, Tập đoàn Than Việt Nam được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Than Việt Nam và các đơn vị thành viên nhằm tạo ra một tập đoàn kinh tế mạnh, có trình độ công nghệ cao, quản lý hiện đại, kinh doanh đa ngành, bao gồm công nghiệp than, nhiệt điện đốt than, vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí năng lượng và mỏ, đóng tàu và ô tô, khai thác và chế biến khoáng sản.

 

Bốn tháng sau, ngày 26/12/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 345/2005/QĐ-TTg thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trên cơ sở Tập đoàn Than Việt Nam và Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam.

 

Theo ông Nguyễn Văn Long - nguyên Chủ tịch HĐQT Tập đoàn, việc chuyển đổi từ mô hình Tổng Công ty thành Tập đoàn tạo cơ sở pháp lý phù hợp cho những đổi mới về tổ chức và cơ chế quản lý đã được xác lập của Tổng Công ty và tiếp tục phát triển chúng lên tầm cao mới của mô hình Tập đoàn kinh tế. Và trong một hội nghị của ĐTN Than Quảng Ninh, ông đã lấy hình ảnh chúng ta đang mặc một cái áo chật cần phải thay một cái áo mới để chỉ việc tất yếu của sự chuyển đổi mô hình hoạt động này.

 

ungarn viagra apotheke Khẳng định vai trò một trong 3 trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

 

Ngay sau khi nhận được các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn đã hoạch định mục tiêu, chiến lược để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Đến nay, sau hơn 10 năm nhìn lại, các thế hệ CBCNVC và người lao động Tập đoàn đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, về cơ bản đạt được những mục tiêu đề ra. Tập đoàn đã thực hiện tốt vai trò là một trong 3 trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Điều đó đã minh chứng khẳng định chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc thành lập Tổng Công ty 91 trước đây và Tập đoàn kinh tế hiện nay là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp.

 

Tập đoàn đã từng bước đầu tư mở rộng, nâng cao công suất các mỏ hiện có, các mỏ mới và các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính để tạo đủ năng lực phát triển qua đó góp phần quan trọng trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đất nước, đảm bảo an sinh xã hội.

 

Trong vòng 10 năm trở lại đây, tổng doanh thu của toàn Tập đoàn đã tăng từ 21 nghìn tỷ đồng năm 2005 lên 101,5 nghìn tỷ đồng năm 2016. Liên tục từ năm 2005 đến 2016, lợi nhuận trước thuế và tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu của Tập đoàn luôn đạt từ 8,2-27,5%.

 

Riêng hai năm gần đây, do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới, trong nước và ảnh hưởng của mưa lũ nên chỉ số này có hạ xuống nhưng vẫn đạt lợi nhuận từ 850 đến trên 1.000 tỷ đồng/năm. Nộp ngân sách Nhà nước bình quân 12,42 ngàn tỷ đồng/năm.

 

 

Để vượt qua những khó khăn trước mắt và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, TKV đã và đang nỗ lực thực hiện tái cơ cấu Tập đoàn gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Ảnh: Phạm Cường.

 

Hiện, phía trước TKV vẫn còn nhiều khó khăn, thử thách với nhiều công việc cần làm. Thực tế hiện nay, tình hình kinh tế đất nước và thế giới vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện nhiều. Trong khi đó, Tập đoàn lại tiếp tục phải đối mặt với không ít thách thức như khai thác ngày càng xuống sâu, nguy cơ về bục nước, khí, hệ số bóc đất, cung độ vận tải, các loại thuế, phí đều tăng… áp lực về năng suất lao động, vốn đầu tư phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao, tuyển dụng và giữ chân thợ lò, an toàn bảo hộ lao động, môi trường... đều là những bài toán khó cần phải giải quyết đồng bộ.

 

Để vượt qua những khó khăn trước mắt và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, TKV đã và đang nỗ lực thực hiện tái cơ cấu Tập đoàn gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo đó, mục tiêu phát triển trước mắt giai đoạn 2016-2020 là phát triển TKV trở thành Tập đoàn kinh tế vững mạnh, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn để phát triển bền vững hơn. Các giải pháp trọng tâm được đưa ra như: tiếp tục đẩy mạnh đầu tư xây dựng, đầu tư phát triển khoa học, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa các cơ sở sản xuất, nâng cao mức độ an toàn, bảo vệ môi trường, đảm bảo tiến độ các dự án quyết định tăng trưởng của Tập đoàn trong các lĩnh vực…

 

viagra kaufen ohne kreditkarte HẢI OANH

Theo Nangluongvietnam

 

Cơ chế điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân có hiệu lực

Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định số 69/2013/QĐ-TTg (trước đây) về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân, áp dụng cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động điện lực và sử dụng điện chính thức có hiệu lực thi hành vào ngày 15/8/2017.

 

Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg quy định nguyên tắc điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân trên cơ sở: Hằng năm, sau khi kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, giá bán điện bình quân được xem xét, điều chỉnh theo biến động khách quan thông số đầu vào của tất cả các khâu (phát điện, truyền tải điện, phân phối - bán lẻ điện, điều hành - quản lý ngành và dịch vụ phụ trợ hệ thống điện) so với thông số được sử dụng để xác định giá bán điện bình quân hiện hành.

 

Trong năm, giá bán điện bình quân được xem xét điều chỉnh khi thông số đầu vào cơ bản trong khâu phát điện biến động so với thông số đã được sử dụng để xác định giá bán điện bình quân hiện hành.

 

Khi các thông số đầu vào theo quy định kể trên biến động làm giá bán điện bình quân giảm so với giá bán điện bình quân hiện hành thì giá điện được điều chỉnh giảm. Còn khi các thông số đầu vào biến động làm giá bán điện bình quân tăng từ 3% trở lên so với giá bán điện bình quân hiện hành thì giá điện được phép điều chỉnh tăng. Thời gian điều chỉnh giá bán điện bình quân tối thiểu là 06 tháng kể từ lần điều chỉnh giá điện gần nhất.

 

Cũng theo quyết định này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam được điều chỉnh tăng hoặc giảm giá bán điện bình quân trong phạm vi khung giá do Thủ tướng Chính phủ quy định.

 

Trường hợp giá bán điện bình quân tính toán cao hơn giá bán điện bình quân hiện hành từ 10% trở lên hoặc ngoài khung giá hoặc ảnh hưởng đến tình hình kinh tế vĩ mô, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, rà soát và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến mức điều chỉnh giá bán điện bình quân. Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

 

Việc điều chỉnh giá bán điện bình quân phải thực hiện công khai, minh bạch.

 

revatio sildenafil preis Về cơ chế điều chỉnh giá bán điện bình quân hàng năm

 

Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg quy định: hàng năm, trên cơ sở kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện do Bộ Công Thương ban hành hàng năm và kết quả kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm trước liền kề theo quy định tại Điều 7 Quyết định này, ước kết quả sản xuất kinh doanh điện trong năm, Tập đoàn Điện lực Việt Nam tính toán giá bán điện bình quân theo công thức quy định tại Khoản 2 Điều 4 Quyết định này.

 

Đối với trường hợp giá bán điện bình quân giảm so với giá bán điện bình quân hiện hành và trong khung giá quy định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm giảm giá bán điện bình quân ở mức tương ứng, lập hồ sơ báo cáo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để kiểm tra, giám sát.

 

Trong trường hợp giá bán điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 3% đến dưới 5% so với giá bán điện bình quân hiện hành và trong khung giá quy định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết định điều chỉnh tăng giá bán điện bình quân ở mức tương ứng. Sau khi tăng giá, Tập đoàn Điện lực Việt Nam lập hồ sơ báo cáo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để kiểm tra, giám sát.

 

Trường hợp giá bán điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 5% đến dưới 10% so với giá bán điện bình quân hiện hành và trong khung giá quy định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam được phép điều chỉnh tăng giá bán điện bình quân ở mức tương ứng sau khi báo cáo và được Bộ Công Thương chấp thuận. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, Bộ Công Thương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản để Tập đoàn Điện lực Việt Nam triển khai thực hiện. Sau khi thực hiện điều chỉnh, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương, Bộ Tài chính.

 

Trường hợp giá bán điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 10% trở lên so với giá bán điện bình quân hiện hành hoặc điều chỉnh ngoài khung giá quy định hoặc ảnh hưởng đến tình hình kinh tế vĩ mô, trên cơ sở hồ sơ phương án giá điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam trình, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, rà soát. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ phương án giá của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra, rà soát và gửi ý kiến bằng văn bản đến Bộ Công Thương. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Tài chính sau khi kiểm tra, rà soát, Bộ Công Thương có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến. Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

 

Theo Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg, trước ngày 25 tháng đầu tiên Quý II, Quý III và Quý IV, trên cơ sở tổng hợp thông số đầu vào cơ bản trong khâu phát điện của quý trước liền kề, Tập đoàn Điện lực Việt Nam xác định chi phí phát điện của quý trước liền kề, chi phí phát điện cộng dồn từ đầu năm, sản lượng điện thương phẩm thực tế của quý trước và tổng sản lượng điện thương phẩm cộng dồn, ước sản lượng điện thương phẩm các tháng còn lại trong năm, tính toán lại giá bán điện bình quân theo công thức quy định tại Khoản 2 Điều 4 Quyết định này (các thông số khác giữ nguyên không thay đổi).

 

Trường hợp sau khi tính toán cập nhật, giá bán điện bình quân tính toán thấp hơn so với giá bán điện bình quân hiện hành và trong khung giá, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm điều chỉnh giảm giá bán điện bình quân ở mức tương ứng, lập hồ sơ báo cáo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để kiểm tra, giám sát.

 

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/wirkt-kamagra-mit-alkohol-49.pdf wirkt kamagra mit alkohol Về cơ chế kiểm tra giám sát

 

Kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện hàng năm.

 

Hàng năm, sau khi có báo cáo quyết toán chi phí sản xuất kinh doanh điện, báo cáo tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị thành viên đã được kiểm toán độc lập, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện của năm trước liền kề. Trong quá trình kiểm tra có thể mời Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội liên quan, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan tham gia. Bộ Công Thương được mời tư vấn độc lập để thẩm tra báo cáo quyết toán chi phí sản xuất kinh doanh điện, báo cáo tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị thành viên;

 

Trong thời hạn 30 ngày sau khi kết thúc kiểm tra, Bộ Công Thương chủ trì họp báo công bố công khai kết quả kiểm tra. Kết quả kiểm tra được công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực;

 

Các nội dung kiểm tra, giám sát và công bố công khai bao gồm:

 

- Chi phí thực tế các khâu phát điện, truyền tải điện, phân phối - bán lẻ điện, quản lý chung, dịch vụ phụ trợ hệ thống điện và các chi phí khác quy định tại Khoản 2 Điều 4 Quyết định này;

 

- Kết quả kinh doanh lỗ, lãi của Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

 

- Các chi phí được tính vào giá thành sản xuất kinh doanh điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

 

- Các chi phí chưa được tính vào giá thành sản xuất kinh doanh điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

 

- Các chi phí khác bao gồm cả chênh lệch tỷ giá đánh giá lại chưa được tính vào giá điện các năm trước, nay được đưa vào giá thành sản xuất kinh doanh điện phải được kiểm toán do kiểm toán độc lập thực hiện và lập thành báo cáo kiểm toán riêng để làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát.

 

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/bonbons-viagra-aussehen-aa.pdf bonbons viagra aussehen Kiểm tra điều chỉnh giá điện

 

Trường hợp Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết định điều chỉnh giá bán điện bình quân theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 5 và Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 Quyết định này hoặc trường hợp Tập đoàn Điện lực Việt Nam trình Bộ Công Thương, Bộ Tài chính hồ sơ phương án giá điện theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 và Khoản 5 Điều 6 Quyết định này, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan xem xét kiểm tra các báo cáo, tính toán của Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

 

Trường hợp giá bán điện bình quân cần điều chỉnh giảm mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam không điều chỉnh giảm, Bộ Công Thương có trách nhiệm yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam điều chỉnh giảm giá bán điện bình quân;

 

Nếu phát hiện có sai sót trong kết quả tính toán giá điện, Bộ Công Thương có trách nhiệm yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam dừng điều chỉnh hoặc điều chỉnh lại giá bán điện bình quân.

 

Trường hợp vi phạm quy định về điều chỉnh, tính toán giá bán điện bình quân theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 7 Quyết định này được xử lý theo quy định pháp luật quy định tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn và Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2013/NĐ-CP hoặc các văn bản quy phạm pháp luật thay thế (nếu có).

Theo Nangluongvietnam.

 

Yêu cầu rà soát một gói thầu tại DA Nhiệt điện Thái Bình 2

Thời gian gần đây, có nhiều thông tin liên quan đến việc tổ chức đấu thầu do Tổng công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) làm tổng thầu EPC đối với gói thầu vật liệu bảo ôn cách nhiệt tại dự án Nhiệt điện Thái Bình 2. Trước thông tin này, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh vừa yêu cầu Tổng cục Năng lượng phối hợp với các đơn vị khẩn trương tiến hành rà soát các vấn đề liên quan đến nội dung báo chí phản ánh về đấu thầu một (01) gói thầu tại dự án Nhiệt điện Thái Bình 2. Báo cáo Bộ trưởng trước ngày 12/8/2017.

 

Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết, thời gian vừa qua đã có nhiều phản ứng về việc tổ chức đấu thầu đối với gói thầu "Vật liệu bảo ôn, cách nhiệt" thuộc Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 hồi tháng 3/2016. Cụ thể, sau thời gian đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật, ngày 19/10/2016, Tổ công tác của PVC đã có báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật, trong đó nêu rõ có 3 nhà thầu vượt qua kỹ thuật gồm Liên danh PVEIC - TBDST - TEMEX, Liên danh ENESCO - NAM AN, Liên danh Lilama 69-2 - Lisemco - Lilama.

 

Vào tháng 10/2016, Tổng giám đốc PVC đã phát hành tờ trình phê duyệt kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật với 3 nhà thầu đủ tiêu chuẩn theo báo cáo của tổ công tác và đề nghị Hội đồng quản trị phê duyệt.

 

Tuy nhiên, ngày 28/10/2016, Hội đồng quản trị PVC lại đưa ra quyết định phê duyệt kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật chỉ có 2 nhà thầu là Liên danh ENESCO - Nam An và Liên danh Lilama 69-2 - Lisemco - Lilama. Liên danh PVEIC - TBDST - TEMEX bị loại và được yêu cầu rà soát lại kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật.

 

Sau đó, Tổ công tác PVC đã rà soát lại và vẫn giữ nguyên kết quả cũ là có 3 nhà thầu vượt qua kỹ thuật, nhưng không được Hội đồng quản trị của PVC thời gian đó chấp thuận.

 

Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, PVC được giao làm nhà thầu có nhiệm vụ thiết kế bản vẽ thi công, mua sắm hàng hoá, thiết bị vật tư, xây lắp, nghiệm thu, đào tạo và bàn giao vận hành…

 

Dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 có công suất thiết kế 1.200 MW, với tổng mức đầu tư hơn 34.295 tỷ đồng (tương đương 1,7 tỷ USD), mỗi năm sản xuất khoảng 6,739 tỉ kWh điện thương phẩm.

Theo Nangluongvietnam.

 

Trình Thủ tướng giải pháp giải quyết thách thức ngành than

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có báo cáo đánh giá chi tiết từng ngành công nghiệp gửi Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, nhiều vấn đề của ngành than (Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam - TKV và Tổng công ty Đông Bắc) đã được cơ quan này đề cập, phân tích và đưa ra giải pháp. Đặc biệt, cơ quan này lưu ý tới những thách thức về điều kiện khai thác tại các mỏ hiện nay, cũng như vấn đề thuế, phí, giá thành than, sức cạnh tranh của than trong nước so với than nhập khẩu và những áp lực lớn về vốn đầu tư, v...v.

 

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính chung 6 tháng đầu năm 2017, sản lượng than sạch cả nước ước đạt 20,6 triệu tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2016, bằng khoảng 44,5% kế hoạch năm. Tồn kho than 6 tháng đầu năm khoảng 10,22 triệu tấn. Trong đó TKV tồn kho khoảng 9,3 triệu tấn, Tổng công ty Đông Bắc khoảng 920.000 tấn.

 

Sáu tháng đầu năm đóng góp của ngành than chiếm tỷ trọng 0,84%/GDP cả nước, chiếm tỷ trọng 3,04%/GDP công nghiệp, đóng góp 0,06 điểm % trong tăng trưởng GDP.

 

Nguyên nhân làm cho ngành khai thác than đạt thấp so với kế hoạch được Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận địnhh là do điều kiện khai thác của các mỏ ngày càng xuống sâu, xa hơn, việc áp dụng mức tính thuế, phí mới làm cho chi phí khai thác tăng, dẫn đến giá thành sản xuất cao, làm giảm sức cạnh tranh của than sản xuất trong nước so với than nhập khẩu.

 

Các loại thuế phí hiện nay cũng chiếm 14-15% giá thành than. Đặc biệt, sản lượng than xuất khẩu sụt giảm mạnh, 6 tháng đầu năm, ngành than chỉ xuất khẩu được 1 triệu tấn do nhu cầu thế giới thấp, nguồn than cung cấp xu hướng tăng.

 

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năng lực sản xuất của ngành than hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu than cho sản xuất, song việc gia tăng sản lượng khai thác phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường. Ngành than phấn đầu hoàn thành mục tiêu sản lượng than sạch sản xuất khoảng 41,43 triệu tấn, tăng 7,6% so với năm 2016. Tồn kho than sạch cuối năm 2017 dự kiến sẽ là khoảng 13,85 triệu tấn.

 

Ngoài ra, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn đề cập đến việc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) muốn điều chỉnh nhu cầu sử dụng than của TKV năm 2017 từ 19,92 triệu tấn giảm xuống 17,92 triệu tấn, việc cắt giảm sản lượng sẽ gây thiệt hại cho TKV và các đối tác do đã ký hợp đồng triển khai kế hoạch từ đầu năm 2017, dẫn đến khả năng làm tăng tồn kho than cao hơn.

 

Do vậy, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất ưu tiên sử dụng than của TKV, điển hình là các doanh nghiệp lớn như EVN hay PVN, trên nguyên tắc thị trường về giá mua than, khối lượng thoả thuận đã ký. Tiếp tục chủ trì, hiệp thương giá bán than đến các hộ tiêu thụ trong nước. 

 

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, để các doanh nghiệp trong nước ưu tiên sử dụng than của TKV và Than Đông Bắc thì về nguyên tắc giá bán than tối đa bằng giá than nhập khẩu. Bộ Kế hoạch và Đầu tư muốn phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương kiểm tra cụ thể cơ cấu giá than hiện nay, tác động từ việc điều chỉnh các loại thuế trong năm 2017 tới giá thành sản xuất. TKV và Than Đông Bắc phải báo cáo cụ thể về việc tiết giảm chi phí năm 2017.

 

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, xét đến 2030 ghi nhận tổng trữ lượng và tài nguyên than của Việt Nam tính đến cuối năm 2015 là 48,88 tỷ tấn - bao gồm 2,26 tỷ tấn và 46,62 tỷ tấn tài nguyên, than bùn là 0,34 tỷ tấn. Trữ lượng và tài nguyên than huy động vào quy hoạch khoảng 3,05 tỷ tấn.

 

Để khai thác đáp ứng nhu cầu sử dụng than đến năm 2020 là 86,4 triệu tấn, năm 2030 lên 256 triệu tấn, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, "ngành than đang đứng trước những áp lực lớn về vốn".

 

Cụ thể, đến năm 2020 ngành than cần là 96.566 tỷ đồng vốn đầu tư, bình quân là 19.313 tỷ đồng/năm. Giai đoạn 2021-2030 vốn đầu tư lên tới 172.437 tỷ đồng đầu tư để duy trì và mở rộng sản xuất, bình quân vốn đầu tư ngành than mỗi năm là 17.934 tỷ đồng.

Theo Nangluongvietnam.

 

Tin liên quan