Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Khung giá bán buôn điện cho các Tổng công ty Điện lực

Bộ Công Thương vừa phê duyệt khung giá bán buôn điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho các Tổng công ty Điện lực năm 2017.

 

Cụ thể:

 

gevaren gebruik viagra Đơn vị

http://viajes-machupicchu.com/layouts/pillen/kamagra-med-gutschein-eb.pdf kamagra med gutschein Mức giá tối đa (đồng/kWh)

viagra och liknande preparat Mức giá tối thiểu (đ/kWh)

http://ratskeller-waren.de/styles/blog/mögliche-nebenwirkungen-von-viagra-fa.html mögliche nebenwirkungen von viagra Tổng công ty Điện lực Miền Bắc

http://elitechoice-properties.com/public/topic/viagra-mit-drogen-25.pdf viagra mit drogen 1.173

ungarn viagra apotheke 1.117

viagra kaufen ohne kreditkarte Tổng công ty Điện lực Miền Nam

revatio sildenafil preis 1.348

1.316

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/wirkt-kamagra-mit-alkohol-49.pdf wirkt kamagra mit alkohol Tổng công ty Điện lực Miền Trung

http://guvenerbekinsaat.com/erbekapt/topic/bonbons-viagra-aussehen-aa.pdf bonbons viagra aussehen 1.209

prix du viagra en pharmacie france 1.139

cialis pas cher forum Tổng công ty Điện lực Hà Nội

vente de cialis au quebec 1.414

1.358

Tổng công ty Điện lực Hồ Chí Minh

1.551

1.506

 

Theo đó, giá bán buôn điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho các Tổng công ty Điện lực không thấp hơn mức giá tối thiểu và không cao hơn mức giá tối đa của khung giá. Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm ban hành giá bán buôn điện cụ thể cho từng Tổng công ty Điện lực theo quy định hiện hành.

 

Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh khung giá bán buôn điện bình quân phù hợp với biến động chi phí sản xuất kinh doanh điện, doanh thu và lợi nhuận định mức của các Tổng công ty Điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm tính toán, báo cáo Bộ Công Thương xem xét, quyết định.

 

Thời gian áp dụng khung giá bán buôn điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho các Tổng công ty Điện lực: từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017.

Theo Nangluongvietnam.

 

Khí hóa than: Nguồn năng lượng sạch của tương lai?

Công nghệ khí hóa gas dưới lòng đất (Underground Coal Gasification - UCG) không tác động đến môi trường như chúng ta thường thấy. Ngày nay, khi công nghệ khai thác đã phát triển và giá gas tăng, do vậy phương pháp UCG trở nên khả thi trong việc tiếp cận đến nguồn than khổng lồ tại các vỉa than nằm sâu trong lòng đất. Thực tế, theo ước tính, có tới 85% trữ lượng than trên thế giới không thể tiếp cận bằng các công nghệ khai thác truyền thống hiện nay.

 

Chế biến khí gas từ than không thân thiện môi trường như chúng ta nghĩ, nhưng do giá than rẻ nên sản xuất năng lượng từ than vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên thế giới, cung cấp 1/4 năng lượng sơ cấp và hơn 40% sản lượng điện. Và xu hướng này sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới.

 

Thách thức to lớn đó là làm sao sản xuất năng lượng từ than một cách sạch hơn, ít gây ô nhiễm môi trường hơn. Trong khi thế giới đang cố gắng để phát triển công nghệ cô lập carbon (Carbon Capture and Storage - CCS) thì một số nước đang tìm kiếm những cách khác nhau để khai thác các mỏ than của mình.

 

Công nghệ chủ yếu được sử dụng để tạo ra khí gas tự nhiên tổng hợp (Synthetic Natural Gas - SNG) là khí hóa than bằng các phản ứng hóa học thay vì đốt nhiên liệu hóa thạch này. Công nghệ này đã được phát triển nhiều thập kỷ qua, nhưng hiện nay đang được quan tâm trở lại khi mà giá khí gas tăng làm cho phương pháp sản xuất này trở lên kinh tế hơn.

 

Tại Mỹ phương pháp sản xuất này áp dụng chưa nhiều, nhưng ngược lại Trung Quốc đang cố gắng thực hiện để thỏa mãn nhu cầu tăng cao về năng lượng và giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu khí gas tự nhiên hóa lỏng (Liquefied Natural Gas- LNG). Ủy ban Quốc gia về Năng lượng của Trung Quốc đã đề ra kế hoạch sản xuất 50 tỉ tấn m3 khí gas từ than vào năm 2020 đủ để thỏa mãn 10% nhu cầu về khí gas của mình.

 

Đây không phải chỉ là vấn đề về kinh tế, mà còn giúp Trung Quốc khai thác các mỏ than nằm cách xa các vùng công nghiệp hàng nghìn km do vận chuyển khí gas rẻ hơn rất nhiều so với việc vận chuyển than.

 

Khí hóa than có thể giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường khi mà đây đang là vấn đề đáng lo ngại tại Trung Quốc. Tuy nhiên, hai vấn đề lớn cần quan tâm đó là:

 

(1) Sản xuất khí hóa than phát sinh ra nhiều khí CO2 hơn các nhà máy sử dụng than làm nguyên liệu truyền thống. Do vậy, không chỉ là việc Trung Quốc sẽ sử dụng nhiều than mà nó còn dẫn đến vấn đề ảnh hưởng đến môi trường.

 

Ông Laszlo Varro, trưởng bộ phận khí gas, than và năng lượng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho rằng: "Khí hóa gas hấp dẫn từ cả phương diện kinh tế, an ninh năng lượng và là giải pháp hữu ích cho vấn đề ô nhiễm của một địa phương". Nhưng về tổng thể thì khí CO2 sẽ tăng lên trên toàn cầu do vậy phương pháp sản xuất này không hiệu quả xét về khía cạnh biến đổi khí hậu.

 

Nước Mỹ đã thu được những kinh nghiệm trong sản xuất khí hóa than trong những năm gần đây. Một nghiên cứu của trường đại học Duke của Mỹ cho biết khí gas tự nhiên tổng hợp (SNG) gây hiệu ứng nhà kính gấp 7 lần so với khí gas tự nhiên và 2 lần so với đốt than.

 

(2) Vấn đề thứ hai là sử dụng nước. Phương pháp khí hóa than là một trong những phương pháp sản xuất năng lượng sử dụng nhiều nước. Trong khi đó nhiều vùng rộng lớn của Trung Quốc, đặc biệt là vùng phía Tây nơi có thể đặt các nhà máy khí hóa gas mới đang phải chịu sự thiếu hụt nước nghiêm trọng.

 

Ông Varro cho biết, những báo cáo gần đây của Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã kết luận rằng: các nhà máy sử dụng than và chế biến khí hóa than sử dụng một phần khá lớn nguồn nước sẵn có tại Trung Quốc.

 

Ở các nước khác đang sử dụng cách khác để lấy khí gas từ than. Một phương pháp khá phổ biến ở Úc đó là lấy khí mêtan trong tầng than đá. Đây là phương pháp cho phép tiếp cận tới các vỉa than ở quá sâu. Nước sẽ được bơm vào các vỉa than và đẩy khí mêtan trên bề mặt của than.

 

Công nghệ sạch

 

Công nghệ khí hóa gas dưới lòng đất (Underground Coal Gasification - UCG) được phát minh từ thế kỷ 19, nhưng chỉ trở thành thương mại hóa và quy mô lớn khi các dự án tại Uzbekistan và dự án thử nghiệm tại Úc và Nam Phi đi vào hoạt động.

 

 

Ô nhiễm nặng nề tại Trung Quốc đã tạo áp lực trong việc xem xét lại làm thế nào để khai thác các mỏ than hiệu quả hơn. Ảnh: Huffingtonpost.

 

Theo bà Julie Lauder, Giám đốc điều hành Hiệp hội Khí hóa than dưới lòng đất (UCG) thì "công nghệ khai thác năng lượng mới từ than này không tác động đến môi trường như chúng ta thường thấy".

 

Công nghệ khai thác phát triển và giá gas tăng, do vậy phương pháp UCG trở nên khả thi trong việc tiếp cận đến nguồn than khổng lồ tại các vỉa than nằm sâu trong lòng đất. Thực tế, theo ước tính có tới 85% trữ lượng than trên thế giới không thể tiếp cận bằng các công nghệ khai thác truyền thống hiện nay.

 

Nếu khai thác các mỏ than theo phương pháp truyền thống có thể dẫn đến phát thải khí CO2 và làm biến đổi khí hậu - thì theo phương pháp UCG nguồn năng lượng này có thể khai thác một cách "sạch" hơn.

 

Quy trình khai thác được thực hiện bằng cách bơm khí ôxy và hơi qua các lỗ khoan vào vỉa than để tạo nên sự tự cháy có kiểm soát. Không giống như công nghệ khai thác khí mê tan từ mỏ than, phương pháp này chuyển than từ thể cứng sang thể khí. Khí hydrogen, methan, carbon monoxide và CO2 sau đó được bơm lên qua lỗ khoan thứ hai.

 

Hiện nay, áp dụng công nghệ này vào sản xuất mới chỉ áp dụng tại Úc và Uzbekistan. Còn tại Việt Nam và nhà nhiều nước khác đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm.

 

Các dự án khí hóa than dưới lòng đất trên thế giới

 

underground coal gasification projects

 

Theo tiến sỹ Harry Bradbury, nhà sáng lập và giám đốc điều hành Công ty Năng lượng Sạch Five Quarters của nước Anh, công nghệ UCG chỉ phát thải 20% khí CO2 so với phương pháp khai thác than truyền thống.

 

Hiện nay, Five Quarters đang phát triển công nghệ hóa thể cứng "Solid State Chemical Engineering" không cần phải đốt than - mà bằng cách giải phóng các khí gas không chỉ tại các vỉa than, mà còn xung quanh khu vực đá. Phương pháp này giúp giảm bớt những quan ngại về nước bị ô nhiễm và sự sụt lún.

 

Tuy nhiên, lợi thế thực sự của phương pháp này nằm ở khả năng làm thế nào kiểm soát được hoàn toàn khí CO2 để không phát thải ra môi trường. Có thể bằng cách bơm khí CO2 trở lại các vỉa than hoặc biến đổi carbon thành các sản phẩm nhựa và than chì (Graphene).

 

Chính phủ Anh đã thành lập một nhóm nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của phương pháp UCG và rất quan tâm đến nguồn than khổng lồ dưới vùng Biển Bắc. Các quốc gia khác cũng quan tâm đến công nghệ khai thác mới để có thể tiếp cận những vỉa than tiềm ẩn nằm sâu dưới lòng biển.

Theo Nangluongvietnam.

 

Năm 2018, EVN và PVN có thể mua than từ bên ngoài

Ngày 20/7, làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc (Bộ Quốc phòng) tại tỉnh Quảng Ninh, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng yêu cầu trong thời gian tới hai đơn vị phải xây dựng thị trường cung ứng than theo hướng đảm bảo cho các hộ tiêu thụ trong nước; giá thành tuân theo quy luật cung cầu và chủ động xây dựng thị trường tiêu thụ, kể cả vấn đề xuất khẩu. Bộ Công Thương sẽ làm việc với các hộ tiêu thụ than để tháo gỡ khó khăn cho ngành than; đồng thời có văn bản báo cáo Chính phủ chỉ đạo EVN và PVN chưa mua than của các đơn vị ngoài TKV và Tổng công ty Đông Bắc trong năm 2017 mà đến năm 2018 mới thực hiện mua than từ bên ngoài.

 

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng, trước đây nguồn cung cho thị trường chỉ có TKV và sau này có thêm Tổng công ty Đông Bắc. Cùng với đó, thị trường than được thực hiện chặt chẽ theo sự điều tiết của Nhà nước nhưng những năm gần đây thị trường này có nhiều biến đổi. Chính phủ đã cho phép thêm hai đơn vị nữa tham gia vào thị trường cung ứng than cho các hộ tiêu thụ.

 

Hiện nhu cầu về than rất đa dạng không chỉ là các hộ tiêu thụ thuần túy. Ngoài Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) còn có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) phát triển rất nhiều nhà máy nhiệt điện than với sản lượng tiêu thụ khoảng 10 triệu tấn. TKV cũng là hộ tiêu thụ than cho các nhà máy nhiệt điện của chính mình chưa kể các dự án BOT do các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư phần lớn là các nhà máy nhiệt điện than.

 

Dự báo đến năm 2030, nhu cầu than cho sản xuất điện sẽ đến hơn 100 triệu tấn và khả năng đến năm 2030 sẽ phải nhập khẩu khoảng 80 triệu tấn than. Trong khi đó, năng lực sản xuất và nguồn tài nguyên có hạn nên khả năng sản xuất chỉ có thể trên 50 triệu tấn/năm. Vì vậy, theo Bộ Công Thương cần có chính sách mới cho việc phát triển thị trường.

 

Tổng Giám đốc TKV Đặng Thanh Hải cho biết, đến thời điểm hiện nay, TKV mới ký được 9 hợp đồng dài hạn với các nhà máy điện. Theo nội dung các công văn của Chính phủ số 46/TTg-CN và số 2172/VPCP-CP về việc cung cấp than cho sản xuát điện thì TKV đóng vai trò chỉ là một trong những kênh cung ứng than cho các nhà máy điện.

 

Bên cạnh đó, việc cung cấp than của TKV được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng năm hoặc hợp đồng mua bán dài hạn đã được ký kết giữa TKV và các nhà máy nhiệt điện chạy than.

 

Do đó, theo Tổng Giám đốc Đặng Thanh Hải, TKV chỉ chịu trách nhiệm đảm bảo cung ứng than cho các máy nhiệt điện đã ký hợp đồng mua bán dài hạn với Tập đoàn, không còn chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh năng lượng và cung cấp than cho nền kinh tế theo các quy hoạch đã phê duyệt trước đây.

 

Từ thực tế trên, TKV đề nghị Bộ Công Thương báo cáo Chính phủ cho phép Tập đoàn chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh căn cứ trên hợp đồng dài hạn để đảm bảo mức tồn kho hợp lý và đảm bảo hiệu quả kinh doanh.

 

Trường hợp TKV vẫn phải thực hiện nhiệm vụ chính trong việc đảm bảo cung cấp than cho sản xuất than cho điện và nhu cầu khác của nền kinh tế theo Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 thì có chính sách ưu tiên sử dụng nguồn than antraxit do trong nước sản xuất, nhất là đối với các nhà máy nhiệt điện để TKV xác định nhiệm vụ dài hạn xây dựng các mỏ than, đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế.

 

Đối với trường hợp các nhà máy nhiệt điện không có nhu cầu sử dụng than, hoặc chỉ sử dụng một phần than của TKV, Chính phủ cho phép xuất khẩu dài hạn tất cả các chủng loại than không phụ thuộc vào hạn ngạch để TKV chủ động về thị trường tiêu thụ và cân đối tài chính.

 

Cũng theo ông Đặng Thanh Hải, đến nay, TKV và các nhà máy nhiệt điện thuộc EVN hiện chưa thống nhất được giá mua bán than giai đoạn từ ngày 26/12/2016 đến 28/2/2017. Vì vậy, TKV và các nhà máy nhiệt điện thuộc EVN chưa thống nhất được hợp đồng mua bán than trong năm 2017.

 

Theo báo cáo đề xuất của EVN năm 2017 sẽ điều chỉnh lại nhu cầu tiêu thụ than giảm 2 triệu tấn so với kế hoạch để tăng tương ứng mua than của 2 đơn vị mới. Tồn kho than sạch cuối năm 2017 của TKV sẽ tăng tương ứng do tăng sản lượng khai thác thêm 2 triệu tấn theo chỉ đạo của Chính phủ và giảm tiêu thụ cho nhà máy điện của EVN là 2 triệu tấn.

 

Việc cắt giảm sản lượng cũng sẽ làm tăng giá thành than do các chi phí cố định không giảm được, hiệu quả sản xuất kinh doanh than giảm mạnh…..

 

Bởi vậy, TKV cũng đề xuất Bộ Công Thương chỉ đạo PVN và EVN chưa mua than của các đơn vị ngoài TKV và Tổng công ty Đông Bắc trong năm 2017 để tránh thiệt hại cho TKV và đề nghị cung cấp than từ các hộ ngoài khác thực hiện từ năm 2018.

 

Đồng thời, có chính sách ưu tiên sử dụng nguồn than antraxit sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu loại than này trong điều kiện đang bất bình đẳng về thuế, phí để giúp TKV tiêu thụ than tồn và sản lượng tăng thêm. Cùng với đó, cho phép TKV xuất khẩu các loại than mà không phụ thuộc vào hạn ngạch để TKV chủ động tiêu thụ và cân đối tài chính.

 

Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng phê duyệt biểu đồ cung cấp than dài hạn cho các nhà máy điện than làm cơ sở cho các đơn vị khai thác chủ động trong kế hoạch dài hạn. Song song đó, chỉ đạo EVN, PVN yêu cầu các nhà máy nhiệt điện tổ chức ký hợp đồng dài hạn và cam kết mua than của TKV theo hợp đồng.

 

Ông Phương Kim Minh, Tổng công ty Đông Bắc đề nghị, Bộ Công Thương không bổ sung các đầu mối cấp than cho sản xuất điện; đặt yếu tố đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia lên trên yếu tố phát triển thị trường than cho sản xuất điện theo cơ chế thị trường.

 

Đồng tình với TKV, Tổng công ty Đông Bắc đề nghị Bộ Tài chính chủ trì hướng dẫn EVN, TKV và Tổng công ty Đông Bắc thống nhất giá than cấp cho các hộ điện trong thời gian từ 1/1/2017 đến 28/2/2017. Ngoài ra, cho phép TKV và Tổng công ty Đông Bắc được xuất khẩu chủng loại than đang tồn mà thị trường trong nước không có nhu cầu sử dụng trên cơ sở tự cân đối lượng tồn kho, tiêu thụ, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Theo Nangluongvietnam.

 

Khí hóa than: Một ngành công nghiệp đang phát triển

Trong các nguồn nhiên liệu hóa thạch trên thế giới, trữ lượng than được xem là phong phú nhất, được phân bố tại khoảng 70 quốc gia. Trữ lượng than này đủ dùng trong 120 năm tới, gấp đôi khí tự nhiên và gấp ba lần dầu mỏ.

image1

 

Công nghệ UCG cho phép tiếp cận các nguồn tài nguyên than không thể khai thác một cách kinh tế bằng các công nghệ khác, ví dụ như các vỉa than quá sâu, chất lượng than thấp hoặc vỉa than quá mỏng.

 

Để huy động nguồn tài nguyên than một cách kinh tế nhất, từ lâu, con người đã biết áp dụng công nghệ khí hóa than ngầm UCG (Underground Coal Gasification). Theo tính toán của các chuyên gia, công nghệ UCG có thể giúp tăng gấp đôi khả năng sử dụng than trên toàn cầu.

 

Khí hóa than ngầm (UCG) là một loại hình khí hóa than tại chỗ, trong các vỉa than nằm sâu dưới bề mặt đất. Qua các lỗ khoan, không khí, ôxy, hoặc hơi nước được bơm vào trong vỉa than, đốt cháy và cung cấp nhiên liệu cho quá trình cháy ngầm. Một giếng riêng biệt được sử dụng để đưa sản phẩm khí tạo ra trong quá trình đốt lên mặt đất.

 

UCG vừa được xem là một quá trình khai thác (như khai thác than) vừa được xem là một quá trình chuyển đổi (khí hóa) nhằm tạo ra một loại khí tổng hợp. Loại khí này được xử lý để sản xuất ra nhiên liệu cho nhà máy điện, dầu Diêzen, nhiên liệu phản lực, khí hydro, phân bón, hóa chất…

 

Phát minh ra công nghệ UCG được cho là của Carl Wilhelm Siemens, người đầu tiên trình bày ý tưởng này tại một hội nghị quốc tế ở London vào năm 1868. Mặc dù công nghệ UCG đã được triển khai tại Nga vào những năm đầu của thập kỷ 60, thế kỷ XX, nhưng do nguồn tài nguyên khí đốt tại đây rất lớn nên công nghệ này không được quan tâm phát triển.

 

Tới nay, những thử nghiệm về công nghệ này đã được tiến hành tại châu Âu, Mỹ và Australia.

 

Trong bối cảnh các nguồn năng lượng ngày càng trở lên cạn kiệt, các công nghệ sản xuất năng lượng mới dường như đã đóng vai trò quan trọng trong hỗn hợp năng lượng tương lai.

 

Công nghệ UCG cho phép tiếp cận các nguồn tài nguyên than không thể khai thác một cách kinh tế bằng các công nghệ khác, ví dụ như các vỉa than quá sâu, chất lượng than thấp hoặc vỉa than quá mỏng. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho công nghệ UCG phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Và ngày càng nhiều công ty sản xuất năng lượng đầu tư thử nghiệm và phát triển công nghệ này.

 

Nhằm thỏa mãn các nhu cầu về năng lượng, Trung Quốc hiện là một trong các quốc gia đi đầu trong việc triển khai thác công nghệ UCG ,với khoảng trên 30 dự án lớn đang được xây dựng.

 

Ấn Độ cũng đã xây dựng các kế hoạch áp dụng công nghệ UCG trong việc tiếp cận 350 tỷ tấn than khó có thể khai thác.

 

Tại Nam Phi, hai Tập đoàn Sasol và Eskom cũng đã tiến hành xây dựng thử nghiệm các trạm khí hóa than ngầm, nhằm trang bị các cơ sở vật chất và đào tạo chuyên gia, nâng cao kiến thức trong lĩnh vực này.

 

Hiện nay, đã có những nghiên cứu và dự án mang tính thử nghiệm được tiến hành tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Việt Nam, Ân Độ, Australia và Trung Quốc trên quy mô thử nghiệm và công nghiệp.

 

Trong bối cảnh phải hạn chế phát thải khí cacbon, công nghệ UCG kết hợp với công nghệ thu giữ khí cacbon (CCS - Carbon Capture and Storage) hiện đang được xem là một giải pháp sử dụng than hiệu quả, lượng phát thải thấp, đặc biệt là đối với các nhà máy điện sử dụng than.

 


Elswick

 

Hiện đã có những nghiên cứu và dự án UCG mang tính thử nghiệm được tiến hành trên quy mô thử nghiệm và công nghiệp.

 

Các giải pháp sử dụng than truyền thống và phi truyền thống, như công nghệ UCG, đều đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu năng lượng trong xã hội ngày càng tăng.

 

Trong quá trình thử nghiệm công nghệ UCG, đã có những ý kiến phản đối trong dư luận xã hội liên quan đến hậu quả ô nhiễm nguồn nước ngầm do công nghệ này gây ra và đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho một dự án áp dụng công nghệ UCG tại Queensland, Australia năm 2010 phải dừng lại.

 

Tuy nhiên, tại hội nghị chuyên đề về UCG tại London đầu năm 2011, nhiều báo cáo đã đề cập đến những giải pháp nhằm hoàn thiện công nghệ UCG cả về kinh tế lẫn tác động môi trường, đồng thời kêu gọi chính phủ các nước cũng như các ngành công nghiệp ủng hộ việc áp dụng công nghệ UCG trên phạm vi rộng lớn.

Theo Nangluongvietnam.

 

TKV áp dụng thành công lò hơi CFB tại các nhà máy điện than

Thông tin từ Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, sau khi tham khảo kinh nghiệm sử dụng công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB) trên thế giới và đặc biệt căn cứ vào đặc tính than sử dụng trong các dự án đều là than xấu (nhiệt trị thấp, hàm lượng lưu huỳnh cao), TKV đã lựa chọn công nghệ này cho các dự án nhiệt điện đốt than chất lượng xấu. Sau áp dụng, kết quả cho thấy các nhà máy nhiệt điện không chỉ nâng cao hiệu suất, mà còn hạn chế tới mức thấp nhất ảnh hưởng phát thải ra môi trường.

 

Hiện tại trong 6 nhà máy nhiệt điện than của TKV đang vận hành bao gồm: Na Dương (110MW), Cao Ngạn (110 MW), Sơn Động (220 MW), Cẩm Phả (660 MW), Mạo Khê (440 MW), Nông Sơn (30 MW) thì tất cả đều sử dụng công nghệ lò hơi CFB thân thiện với môi trường.

 

Theo đánh giá của TKV, ưu điểm của lò hơi CFB là có nhiệt độ trung tâm buồng lửa thấp (chỉ nằm trong khoảng 800 - 850 độ C), do đó, trong nhiên liệu cháy không tạo thành khí Oxyde Nitơ (NOx).

 

Mặt khác, việc phun trực tiếp bột đá vôi vào thẳng buồng đốt để khử Acid Sulphuric (SOx) trong sản phẩm cháy đã hạn chế được lượng SOx trong phạm vi giới hạn cho phép mà không cần phải lắp đặt các công nghệ khử khí lưu huỳnh ngoài với giá thành rất cao.

 

Cạnh đó, việc áp dụng công nghệ lò hơi CFB cũng tận dụng được nguồn tài nguyên than có chất lượng thấp (kể cả xít thải), khó tiêu thụ để phát điện, nâng cao giá trị năng lượng của than - qua đó giảm bớt khó khăn tìm bãi đổ khối lượng lớn bã xít thải trong quá trình sàng tuyển than, góp phần bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến tiêu thụ than.

 

Tại Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả hiện đã sử dụng hoàn toàn than cám 6b cho phát điện, đồng thời sử dụng phương pháp đốt đá vôi cùng than để khử lưu huỳnh và sử dụng hệ thống lọc bụi tĩnh điện nhằm kiểm soát khí thải.

 

Kết quả cho thấy, lò hơi tận dụng rất tốt nguồn than xấu để phát điện. Do hiệu suất đốt than cao, hàm lượng than không cháy hết trong tro xỉ thấp, hạn chế lượng tro xỉ thải ra sau khi sản xuất điện.

 

Đặc biệt, lượng xỉ thải còn lại có thể được tận dụng làm gạch không nung, làm phụ gia cho ngành xi măng, dùng trong san lấp mặt bằng, làm đường, vv…

 

Với Nhà máy Nhiệt điện Mạo Khê khi sử dụng hai lò hơi CFB để đốt than phát điện. Lò có khả năng khử lưu huỳnh trong khói thải bằng việc đốt kèm đá vôi trong buồng đốt, khử bụi tĩnh điện hiệu suất cao (lên đến hơn 99,8%), giúp làm giảm khí và bụi thải.

 

Bên cạnh đó, hệ thống nước thải khép kín, có khả năng tái sử dụng nước thải sau khi xử lý cũng giúp hạn chế thấp nhất việc thải nước ra ngoài môi trường. Việc sử dụng lò hơi tại 2 nhà máy nhiệt điện này cũng chứng minh có hiệu quả về kinh tế, bởi sử dụng than nhiệt lượng thấp giúp giảm chi phí sản xuất do giá bán loại nhiên liệu này thấp hơn so với than cám 5 đang được sử dụng phổ biến tại nhiều nhà máy nhiệt điện, từ đó giúp sử dụng nguồn than hiệu quả.

 

Từ thành công này, trong thời gian tới, TKV sẽ xem xét lắp đặt các lò hơi siêu tới hạn (Ultra supercritical - USC) hiệu suất cao phát thải thấp (High-efficiency low-emissions - HELE) và trên siêu tới hạn (Ultra supercritical - USC (HELE) tại một số dự án nhiệt điện đang chuẩn bị triển khai, nhằm nâng cao hiệu suất nhà máy và hạn chế tới mức thấp nhất ảnh hưởng phát thải ra môi trường.

Theo Nangluongvietnam.

 

Chính phủ yêu cầu sửa đổi chính sách thuế tài nguyên than

Phó thủ tướng Vương Đình Huệ vừa yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan đề xuất việc sửa đổi, bổ sung chính sách thuế, phí đối với tài nguyên khoáng sản. Đồng thời, báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc điều chỉnh mức thuế nhập khẩu đối với than và chính sách thuế, phí đối với than theo quy định.

 

Theo đánh giá của Chính phủ, trong những năm qua, Bộ Tài chính đã kịp thời phối hợp với các cơ quan liên quan ban hành và sửa đổi các chính sách tài chính, thuế đối với tài nguyên khoáng sản và công nghiệp khai khoáng để đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước, hạn chế khai thác bừa bãi, bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản... Tuy nhiên, vẫn có những chính sách thuế, phí đối với tài nguyên vẫn chưa phù hợp với thực tiễn, cần phải tiếp tục sửa đổi cho phù hợp.

 

Phó thủ tướng yêu cầu việc sửa đổi, bổ sung chính sách trên phải bảo đảm phù hợp với Nghị quyết số 2-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Nghị quyết số 7-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020; Chỉ thị số 3/CT-TTg ngày 30/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản và tình hình thực tế quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản.

 

Đồng thời, báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc điều chỉnh mức thuế xuất khẩu đối với tinh quặng sắt Manhetit đã qua chế biến, thuế nhập khẩu đối với than và chính sách thuế, phí đối với các loại khoáng sản này theo quy định.

 

Trên thực tế, việc áp thuế, phí tài nguyên hiện nay vẫn đang gây ra hai luồng ý kiến trái chiều. Trong khi các chuyên gia, các doanh nghiệp trong ngành cho rằng việc áp thuế phí cao là bất hợp lý, tận thu cho ngân sách, thì cơ quan quản lý lại cho rằng, cần phải điều chỉnh tăng để hạn chế khai thác bừa bãi, tiết kiệm nguồn tài nguyên cho đất nước.

 

Theo TS. Nguyễn Cảnh Nam (Hội đồng Phản biện Tạp chí Năng lượng Việt Nam) thì mức thuế suất thuế tài nguyên than cộng với tiền cấp quyền khai thác hiện hành của Việt Nam là cao nhất thế giới, trong khi hầu hết các mỏ than đã khai thác hàng chục, thậm chí đến 100 năm và bước vào thời kỳ có điều kiện khai thác khó khăn, phức tạp. Đây cũng là một nguyên nhân chính làm cho giá thành than khai thác trong nước tăng cao nên giảm sức cạnh tranh so với than nhập khẩu.

 

Chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam cho rằng, nếu không có sự điều tiết trong nội bộ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc (là 2 đơn vị chủ lực khai thác than hiện nay) thì nhiều mỏ, hoặc khu vực mỏ trong hai đơn vị này bị lỗ rất lớn và phải đóng cửa.

Theo Nangluongvietnam.

 

Tin liên quan