Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Indonesia lên kế hoạch xây dựng cảng than tại Việt Nam

http://viajes-machupicchu.com/layouts/pillen/viagra-wie-ist-es-49.pdf viagra wie ist es Công ty PT Intra Asia Indonesia của Indonesia đang lên kế hoạch xây dựng một cảng than tại miền Nam Việt Nam có công suất bốc dỡ 15 đến 20 triệu tấn than/năm, với tổng số vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD, Jakarta Post đưa tin. 

http://gatterdam.com/layouts/apotheke/welcher-arzt-verschreibt-mir-viagra-23.pdf welcher arzt verschreibt mir viagra  

viagra kaufen grazkamagra in graz kaufen Theo tờ Bưu điện Jakarta, trước đó, hồi cuối tháng 8/2017, trước sự chứng kiến của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Indonesia Joko Widodo, Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Tài nguyên khoáng sản Indonesia đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực than.

http://www.up2move.de/old/xls/cialis-farmacia-italiana-prezzo-66.html cialis farmacia italiana prezzo  

bringt viagra wirklich was Theo ông Lutfi Ismail - thành viên Ban điều hành PT Intra Asia Indonesia, cảng này sẽ được sử dụng để phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Indonesia - đặc biệt là nhiên liệu than. Khi đi vào hoạt động, cảng này sẽ có công suất bốc dỡ 15 đến 20 triệu tấn than mỗi năm, qua đó giảm chi phí vận chuyển than nhập từ Indonesia.

http://up2move.de/old/xls/how-long-does-cialis-last-after-expiration-date-11.html how long does cialis last after expiration date  

super kamagra auf rechnung Lutfi Ismail cho rằng, việc xây dựng cảng này sẽ hỗ trợ đắc lực việc xuất khẩu than từ Indonesia sang Việt Nam, và giúp đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy nhiệt điện than.

cialis 20mg einnahme  

Đánh giá về những cơ hội và thách thức trong việc nhập khẩu than từ Indonesia, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam - Phan Ngô Tống Hưng cho rằng, Indonesia hiện là quốc gia cung cấp than nhiệt năng trung bình và thấp cho các nước như: Việt Nam, Malaysia, Thái Lan nhờ có chi phí vận tải biển tương đối thấp. Độ mở của ngành than Indonesia thuộc loại lớn nhất thế giới (hơn 75% sản lượng than của Indonesia đã được xuất khẩu). Chính sách của Indonesia liên quan đến xuất khẩu than là tương đối rõ ràng.

 

Do vậy, theo ông Hưng, trong thời gian tới, nguồn than xuất khẩu từ Indonesia sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cân bằng năng lượng của các nước châu Á và đặc biệt trong khu vực ASEAN.

 

Tuy nhiên, theo nhận định của ông Hưng, việc nhập khẩu than từ Indonesia cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với ngành năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới.

 

Một là: Trong tương lai, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu 60÷70% khối lượng than cần cho các nhu cầu sử dụng trong nước. Trong đó, nhu cầu nhập khẩu than từ Indonesia của Việt Nam chiếm tới >50% và sẽ tăng lên rất nhanh.

 

Hai là: Thị trường than của Indonesia đã và đang phát triển một cách sôi động với nhiều nhà nhập khẩu than lớn, có truyền thống và có sức cạnh tranh (hiệu quả sử dụng than) rất cao như: Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

 

Ba là: Trong khi đó, điều kiện về hạ tầng dịch vụ logistic phục vụ cho việc nhập khẩu than ở Việt Nam còn rất hạn chế.

 

Vì vậy, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam kiến nghị Chính phủ Việt Nam cần có những chính sách ưu tiên về nhập khẩu than và sớm đề ra các giải pháp mang tính tổng thể để xử lý các khâu "nút cổ chai" trong chuỗi cung ứng than nhập khẩu.

Nguồn: Tạp chí Năng lượng Việt Nam

 

Than Việt Nam xuất khẩu đến thị trường Lào tăng cao

Thông tin từ Tổng cục Hải quan cho biết, trong 8 tháng đầu năm nay, than xuất khẩu của Việt Nam đến hầu hết các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, thị trường đặc biệt chú ý là thị trường Lào, với lượng xuất khẩu tăng trên 16 lần so với cùng kỳ năm ngoái (đạt 50.455 tấn) và trị giá tăng 15 lần so với cùng kỳ (đạt 4,32 triệu USD).

 

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 8/2017 cả nước đã xuất khẩu gần 131.734 tấn than, đạt 15,33 triệu USD (giảm 6% về lượng và giảm 13,6% về trị giá so với tháng 7/2017). Tính chung cả 8 tháng đầu năm 2017 xuất khẩu trên 1,3 triệu tấn than, thu về 180,6 triệu USD (tăng 132% về lượng và tăng 215% về trị giá so với 8 tháng đầu năm 2016).

 

Số liệu tính toán cho thấy, giá xuất khẩu than 8 tháng đầu năm nay tăng 14% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể: giá trung bình đạt 116,4 USD/tấn (trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ đạt 102 USD/tấn).

 

  1. Tổng cục Hải quan, Nhật Bản là thị trường tiêu thụ than của Việt Nam nhiều nhất, chiếm 52% về khối lượng và chiếm 46% trong tổng kim ngạch xuất khẩu than của cả nước (đạt 671.647 tấn, thu về 83,25 triệu USD).

 

Còn xuất khẩu than sang các nước Đông Nam Á đứng thứ 2 về kim ngạch chiếm 24% trong tổng lượng và chiếm 29% trong tổng kim ngạch xuất khẩu than của cả nước (đạt 308.172 tấn, tương đương 51,63 triệu USD).

 

Tiếp đến thị trường Malaysia, với 157.889 tấn, tương đương trên 36,84 triệu USD (chiếm 12% trong tổng lượng và chiếm 20% trong tổng kim ngạch).

 

Trong 8 tháng đầu năm nay, xuất khẩu than sang hầu hết các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, thị trường đặc biệt chú ý là thị trường Lào, với lượng xuất khẩu tăng trên 16 lần so với cùng kỳ năm ngoái (đạt 50.455 tấn) và trị giá tăng 15 lần so với cùng kỳ (đạt 4,32 triệu USD).

Nguồn: Tạp chí Năng lượng Việt Nam

 

Bộ TNMT thông tin về tro, xỉ than nhiệt điện

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 20/9/2017, cơ quan này cho biết, hiện nay phần lớn các nhà máy nhiệt điện trên cả nước đều chưa có biện pháp tái sử dụng, xử lý tro, xỉ than một cách triệt để. Tro, xỉ chủ yếu được đổ ra bãi thải của các nhà máy. Ngoài ra, hầu hết lượng tro, xỉ của các nhà máy nhiệt điện than Việt Nam hiện cũng chưa đáp ứng các tiêu chuẩn dùng làm vật liệu xây dựng, được thải trực tiếp ra bãi đều có thể dẫn tới các tác động đến môi trường.

 

Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra nhận định: Tro, xỉ thải tích tụ với diện tích lớn có thể rò rỉ nước thải từ bãi xỉ thải ra ngoài môi trường (trường hợp thải xỉ ướt), gây ô nhiễm môi trường đất và nước; lượng tro, xỉ phát sinh ngày càng nhiều trong khi khả năng lưu, giữ bị giới hạn.

 

Bên cạnh đó, bụi (trong đó có nhiều thành phần bụi với kích thước nhỏ, dễ phân tán như PM2,5 và PM5) đều có thể phát sinh trong quá trình lưu giữ, vận chuyển từ nhà máy nhiệt điện đến bãi thải bằng xe tải, hoặc tại khu vực bãi xỉ nếu không có biện pháp kiểm soát.

 

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, thực tế hiện nay, việc tồn đọng tro, xỉ, thạch cao là thiếu các hướng dẫn kỹ thuật, các tiêu chuẩn về việc sử dụng tro, xỉ, thạch cao để làm vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng. Nhiều doanh nghiệp, địa phương có nhu cầu sử dụng lượng lớn tro, xỉ, thạch cao để làm vật liệu xây dựng, nhưng hiện vẫn chưa có các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật nên không thể thực hiện được.

 

Do vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các bộ, ngành liên quan yêu cầu các chủ dự án phải có phương án tiêu thụ, xử lý tro, xỉ than đảm bảo môi trường. Đồng thời áp dụng các biện pháp giảm thiểu phù hợp để hạn chế tác động đến môi trường nước và môi trường không khí xung quanh..

 

Hiện Việt Nam có 26 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, với tổng công suất 13.810 MW (tiêu thụ khoảng 47,8 triệu tấn than), mỗi năm thải ra hơn 16,4 triệu tấn tro xỉ, thạch cao. Dự kiến tới năm 2020, cả nước sẽ có thêm 15 dự án nhiệt điện than được đưa vào hoạt động (hiện đang trong quá trình xây dựng), qua đó nâng tổng công suất lên 24.370 MW và tiêu thụ khoảng 60 triệu tấn than/năm.

Nguồn: Tạp chí Năng lượng Việt Nam

 

Chuyển dịch cơ cấu năng lượng: Việt Nam cần đổi mới thể chế

http://r4ven.linuxpl.info/layouts/menshelp/gutschein-kamagra-store-e1.pdf gutschein kamagra store "Hướng tới chuyển dịch cơ cấu năng lượng, đảm bảo công bằng xã hội, Việt Nam cần thay đổi nhận thức, đổi mới thể chế, tăng cạnh tranh, giảm trợ cấp, tăng tính minh bạch, đồng thời khuyến khích, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng hiệu quả…", đó là đề xuất của TS. Đặng Thị Thu Hoài, Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương tại Hội nghị quốc tế Lộ trình hướng tới chuyển dịch cơ cấu năng lượng đảm bảo công bằng xã hội châu Á, tổ chức ngày 20/9, tại Hà Nội.

Hội nghị quốc tế Lộ trình hướng tới chuyển dịch cơ cấu năng lượng đảm bảo công bằng xã hội hội châu Á.

Phát biểu khai mạc hội nghị, bà Yvonne Blos - Điều phối viên về năng lượng và biến đổi khí hậu khu vực châu Á thuộc Viện Friedrich Ebert (FES) - Đức tại Việt Nam cho biết: trong những năm gần đây, năng lượng và vấn đề biến đổi hậu đang ngày được các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm.

"Vấn đề năng lượng không phải lĩnh vực riêng lẻ mà nó có rất nhiều yếu tố liên ngành. Vì vậy, chúng ta không thể đơn phương giải quyết các vấn đề năng lượng, biến đổi khí hậu, mà các tổ chức, các nước, các khu vực phải phối hợp với nhau để giải quyết", bà Yvonne Blos nhấn mạnh.

Viện Friedrich Ebert của Đức là tổ chức khuyến khích tạo sự công bằng, đoàn kết cho xã hội để có thể giải quyết được các khía cạnh với nhau về vấn đề biến đối khí hậu. "Chúng tôi thúc đẩy, chuyển dịch trong cơ cấu năng lượng, để giúp chúng ta có cách thức phát triển năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng GDP, có thể kết hợp các chương trình, huy động các nguồn lực để phát triển năng lượng bền vững, cũng như hạn chế được các mối nguy hiểm cho lĩnh vực này", bà Yvonne Blos phát biểu.

Ở góc độ khu vực, chương trình của chúng tôi tập trung vào giải quyết các thách thức khoa học của xã hội. Chúng ta cần phải có những thay đổi về cơ cấu năng lượng và đây là điều hoàn toàn khả thi ở thời điểm hiện tại, với công nghệ ngày càng phát triển như hiện nay.

Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi hiện nay sẽ còn có nhiều tác động về mặt xã hội mà chúng ta cần phải tính tới và sẽ còn rất nhiều điều mà chúng ta phải cố gắng để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Theo bà Yvonne Blos: Hiện nay, vấn đề phát thải khí CO2 là vấn đề rất lớn, mang tính chất toàn cầu, vì vậy, con đường mang tính chất phát triển bền vững hơn sẽ ngày càng quan trọng.

Cùng với các cuộc khủng hoảng về năng lượng thì càng ngày càng có nhiều các dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo, vì vậy, phát triển năng lượng tái tạo hiện nay đang là mối quan tâm hàng đầu.

Tại hội nghị, các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu năng lượng đã được các quốc gia như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam đề cập. Đây sẽ là nguồn thông tin để cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư để có thể đưa ra con đường phát triển năng lượng bền vững trong khu vực.

TS. Đặng Thị Thu Hoài, Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương cho biết: trong những năm qua, nhu cầu năng lượng của Việt Nam tăng nhanh, giai đoạn 2010-2015, GDP tăng 6%, trong khi đó tăng trưởng hằng năm về điện là 11,5%.

Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách về năng lượng, phát triển xanh và biến đổi khí hậu, nhưng không quyết liệt, thực thi chưa tốt; kỳ vọng về năng lượng tái tạo còn thấp, và tương lai phụ thuộc nhiều vào than đá.

Về thị trường năng lượng, gần như độc quyền, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước; các trợ giá gián tiếp cho nhiên liệu hoá thạch vẫn đang diễn ra.

Vì vậy, trong bối cảnh đó, Việt Nam dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, các cam kết quốc tế, các lo ngại về môi trường ngày càng gia tăng…

Để hướng tới chuyển dịch cơ cấu năng lượng, đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam, TS. Đặng Thị Thu Hoài, đề xuất thực hiện 4 nhóm về chính sách:

Thứ nhất, thay đổi nhận thức, cần có tầm nhìn cập nhật, sâu rộng và lâu dài hơn.

Thứ hai, đổi mới thể chế, tăng cạnh tranh, giảm trợ cấp, tăng tính minh bạch của các doanh nghiệp nhà nước, tăng trách nhiệm của chính quyền địa phương và tăng các điều kiện cho phép chuyển đổi tập trung đầu tư vào sử dụng năng lượng hiệu quả và năng lượng tái tạo.

Thứ ba, khuyến khích và đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng hiệu quả: các khuyến khích cho các nhà đầu tư, người tiêu thụ và các chính quyền địa phương.

Thứ tư, xây dựng năng lực trong ngành năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng và ngân hàng.

"Nhiều quốc gia châu Á đang ở trong tình thế khó khăn khi vừa phải đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng gia tăng, vừa phải đối mặt với áp lực cắt giảm khí thải nhà kính. Với xu thế này, cơ cấu năng lượng của các quốc gia dự đoán sẽ có nhiều thay đổi. Để tránh tình trạng phụ thuộc quá mức vào nhiên liệu hóa thạch, việc chuyển đổi sang phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng hiệu quả trên quy mô lớn là vô cùng cần thiết", đó là nhận định của Viện Friedrich Ebert (FES) - Đức tại Việt Nam.

Nguồn: Tạp chí Năng lượng Việt Nam

Mức than tồn kho sẽ nằm trong điều kiện dự trữ cần thiết

Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đang chỉ đạo các ban chuyên môn phối hợp tốt với các đơn vị trong điều hành để tăng cường tiêu thụ than, đưa mức tồn kho về dưới 6 triệu tấn trong năm 2018. Đây là mức tồn kho than nằm trong điều kiện dự trữ cần thiết để luôn đảm bảo nguồn than cung cấp trong nước, đáp ứng yêu cầu an ninh năng lượng quốc gia.

 

Theo kế hoạch đã được phê duyệt, năm 2018, dự kiến TKV sẽ đặt kế hoạch tiêu thụ 36 triệu tấn than các loại. Theo đó, các đơn vị sản xuất than nguyên khai theo 3 kịch bản: sản xuất 36 triệu tấn, 35 triệu tấn, hoặc 34 triệu tấn tùy theo mức độ tiêu thụ than trên thị trường để đạt được con số tồn kho trong giới hạn 5-6 triệu tấn.

 

Cùng với đẩy mạnh tiêu thụ để đạt được mục tiêu trên, năm 2018, TKV cũng sẽ điều hành tiếp tục ổn định sản xuất đảm bảo tốc độ tăng trưởng hợp lý với mục tiêu "An toàn - Đổi mới - Phát triển"; giữ vững và phát triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh chính; đảm bảo thu nhập cho người lao động năm 2018 phải cao hơn so với năm 2017, đặc biệt đội ngũ thợ lò; tìm mọi biện pháp để giữ chân thợ lò; không được để thợ lò mất việc hoặc bỏ việc; đảm bảo an ninh năng lượng, an toàn và an sinh xã hội… Trong chỉ đạo điều hành, khối sản xuất than hầm lò, cố gắng không giảm sản lượng, giao tối đa sản lượng cho các đơn vị khai thác bằng cơ giới hóa đồng bộ và các đơn vị khai thác có công suất cao.

 

Mặt khác, khối sản xuất than lộ thiên cân đối sản xuất theo năng lực tài chính, hạn chế công tác thuê ngoài, phát huy tối đa năng lực tự có của đơn vị đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động. Các khối sản xuất khác phát huy tối đa năng lực, đẩy mạnh sản xuất tiêu thụ giảm tồn kho, tăng trưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh, vv...

 

Theo số liệu thống kê của TKV, trong tháng 8/2017, Tập đoàn phấn đấu sản xuất 2,4 triệu tấn than, tiêu thụ 2,66 triệu tấn. Trong đó, trong nước tiêu thụ hơn 2,5 triệu tấn, xuất khẩu than 155.000 tấn.

 

Về công tác quản lý kỹ thuật cơ bản, TKV tập trung điều hành các chỉ tiêu kỹ thuật hệ số bóc đất, hệ số mét lò, tỷ lệ thu hồi, tổn thất than, tỷ lệ thực thu khoáng sản ít nhất đạt chỉ tiêu kế hoạch đầu năm. Đồng thời, đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hoá trong sản xuất; đẩy mạnh đào chống lò bằng vì neo bởi đây là khâu đặc biệt quan trọng quyết định tăng năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm - Công ty mẹ sẽ phải trực tiếp chỉ đạo quyết liệt hơn nữa, nhất là các đơn vị hầm lò.

 

Để hoàn thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 2017, hiện TKV đang hoàn thiện cơ chế giao khoán để các công ty con, đơn vị trực thuộc chủ động trong điều hành kế hoạch năm nhằm tăng hiệu quả của toàn tổ hợp.

Nguồn: Tạp chí Năng lượng Việt Nam

 

TKV điều chỉnh giảm sản lượng một số chủng loại than

Do tình hình tiêu thụ than trên thị trường vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã chỉ đạo rà soát tại một số đơn vị thành viên có sản phẩm than mà thị trường tiêu thụ không có nhu cầu để có thể giảm một phần sản lượng khai thác. Theo đó, các đơn vị sẽ cân đối tăng cường việc bóc đất, hoặc đào lò để sẵn sàng ra than trong điều kiện tiêu thụ thuận lợi hơn.

 

Theo đánh giá, thì đây có thể được cói là giải pháp điều hành linh hoạt theo thị trường và chỉ áp dụng trong điều kiện tiêu thụ than của các đơn vị này khó khăn. Còn khi thị trường tiêu thụ ổn định,TKV sẽ điều chỉnh thay đổi để ổn định sản xuất cho các đơn vị thành viên.

 

Báo cáo của TKV cho biết, trong những tháng cuối năm, ngành than tiếp tục điều hành sản xuất theo khả năng tiêu thụ hằng tháng, phấn đấu giảm tồn kho tối thiểu 500.000 tấn than các loại để cuối năm đưa tồn kho về mức hợp lý và đưa mức tồn kho về dưới 6 triệu tấn trong năm 2018. Đồng thời, nghiên cứu phương án sản xuất hợp lý nhưng vẫn phải bảo đảm chỉ tiêu lợi nhuận theo mục tiêu đã đề ra.

 

Theo kế hoạch đã được Hội đồng thành viên phê duyệt, năm 2018, dự kiến toàn Tập đoàn sẽ đặt kế hoạch tiêu thụ 36 triệu tấn than các loại. Theo đó, TKV chỉ đạo các đơn vị sản xuất than nguyên khai theo 3 kịch bản: Sản xuất 36 triệu tấn, 35 triệu tấn hoặc 34 triệu tấn tùy theo mức độ tiêu thụ than trên thị trường để đạt được con số tồn kho trong giới hạn 5-6 triệu tấn.

 

Để đạt được mục tiêu, năm 2018, TKV sẽ tiếp tục điều hành theo hướng ổn định sản xuất, bảo đảm tốc độ tăng trưởng hợp lý và tìm mọi biện pháp để giữ chân thợ lò. Đặc biệt, TKV cũng chỉ đạo khối sản xuất than hầm lò cố gắng không giảm sản lượng.

Nguồn: Tạp chí Năng lượng Việt Nam

 

Tin liên quan